Phương pháp đầu tư Warren Buffett trình bày tường tận 12 nguyên tắc đầu tư cốt lõi trong chiến lược của Warren Buffett, từ nguyên lý kinh doanh, nguyên lý quản lý đến nguyên lý tài chính, nguyên lý giá trị.
Chúng ta sẽ học cách áp dụng chính những nguyên lý này để xây dựng danh mục đầu tư của riêng mình, đồng thời tìm thấy các phân tích về tâm lý học của đầu tư dài hạn, những lợi ích tối ưu của nó, cũng như cách tránh những cạm bẫy và sai lầm phổ biến nhất mà nhà đầu tư gặp phải.
Cuốn sách này bao gồm:
- Lời tựa mới của tác giả cho bản kỷ niệm 30 năm lần xuất bản đầu tiên.
- Những yếu tố và sự kiện hình thành triết lý đầu tư của Warren Buffett.
- Phân tích quá trình quản lý danh mục đầu tư.
- Thảo luận về khái niệm tâm thế tiền bạc và cách Warren Buffett sử dụng để tránh những sai lầm phổ biến trong đầu tư.
Đây là một cẩm nang không thể thiếu về sự nghiệp và những thành tựu phi thường của Warren Buffett, cũng là nguồn tài liệu mà các nhà đầu tư chuyên nghiệp cũng như cá nhân không nên bỏ lỡ nếu muốn học hỏi từ nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới.
Đối tượng của cuốn sách:
- Bất cứ ai đang muốn tìm hiểu về đầu tư và bắt đầu sự nghiệp đầu tư, muốn tìm hiểu, học hỏi về các phương pháp đầu tư của nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới.
- Sinh viên các ngành về tài chính, đầu tư, muốn mở mang kiến thức về đầu tư và bắt đầu tìm hiểu thị trường chứng khoán, các nguyên lý để đầu tư sinh lời.
- Nhà đầu tư chuyên nghiệp, nhà đầu tư cá nhân, đang mong muốn tạo dựng một sự nghiệp đầu tư an toàn và hiệu quả, và học được những bài học về đầu tư cũng như tránh những sai lầm phổ biến mà các nhà đầu tư gặp phải.
THÔNG TIN TÁC GIẢ
Robert Hagstrom là một trong những tác giả nổi tiếng nhất về sách đầu tư, trong đó Phương pháp đầu tư Warren Buffett nằm trong danh sách bán chạy của tờ New York Times suốt 21 tuần và bán được hơn 1 triệu bản trên toàn thế giới.
Robert cũng có hơn 40 năm kinh nghiệm với tư cách là một nhà đầu tư chuyên nghiệp. Hiện ông là Giám đốc Đầu tư của công ty quản lý đầu tư EquityCompass Investment Management, LLC và Quản lý Danh mục Cấp cao của Global Leaders Portfolio. Trước đó, Robert từng quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý tài sản Legg Mason Capital Management. Năm 2007, ông nhận danh hiệu “Nhà quản lý Quỹ Cổ phiếu Nội địa của Năm” do Morningstar trao tặng.
ĐÁNH GIÁ/ NHẬN XÉT CỦA BÁO CHÍ/CHUYÊN GIA
“Một bản tường thuật đặc biệt hữu ích về các phương pháp của một nhà đầu tư được đa số coi là vĩ đại nhất thế giới.”— The Wall Street Journal
“Thật sự xuất sắc. Buffett nhận được rất nhiều sự chú ý về những gì ông giảng giải, nhưng chưa ai mô tả những gì ông thực hành tốt hơn Hagstrom. Một cẩm nang toàn diện về việc áp dụng chiến lược đầu tư của Buffett.”— Fortune
“Đơn giản là cuốn sách mới quan trọng nhất về cổ phiếu… Nếu bạn nghĩ mình đã biết hết về Warren Buffett, thì bạn còn rất nhiều điều phải học từ cuốn sách này.”— Forbes
“Không ai mô tả những gì Buffett thực hành tốt hơn Hagstrom.”— Time
“Hầu như bất kỳ ai tò mò về mối quan hệ giữa hành vi của kinh tế học, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và những thăng trầm của thị trường chứng khoán đều sẽ tìm thấy điều gì đó hữu ích ở đây.”— The Economist
TRÍCH ĐOẠN
“Đầu tư dài hạn từng là một hướng đi thận trọng. Giờ đây, khi bạn nói rằng mình là một nhà đầu tư dài hạn, bạn sẽ bị xem là lỗi thời, lạc điệu, bám víu vào một ý niệm cổ xưa của một thời đã qua. Thế giới không ngừng chuyển động, người ta bảo vậy. Nếu không liên tục mua và bán, hẳn là bạn đang tụt lại phía sau.”
“Chúng ta biết nguyên tắc đầu tư của Warren Buffett là chỉ kinh doanh trong ‘vòng tròn giới hạn khả năng’. Hãy coi vòng tròn khả năng này như quá trình tích luỹ kinh nghiệm của bạn. Nếu một người nào đó điều hành thành công một ngành kinh doanh nào đó trong một thập kỷ hoặc hơn, chúng ta nói rằng người đó có trình độ năng lực cao để đạt được mục tiêu. Tuy vậy, nếu một người chỉ có rất ít năm kinh nghiệm điều hành một ngành kinh doanh mới, chúng ta sẽ có lý do nghi ngờ trình độ, khả năng của người đó. Có lẽ trong suy nghĩ của Buffett, kinh nghiệm điều hành và nghiên cứu kinh doanh danh mục đầu tư của Berkshire đặt ra vòng tròn khả năng quá cao đến mức khó đạt được một trình độ tương tự đối với am hiểu một ngành mới.”
“Tiêu chuẩn thứ hai của Fisher để xác định những công ty vượt trội là chất lượng quản lý. Ông tin rằng, những nhà quản lý cấp cao kiên quyết phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, qua đó tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng doanh thu trong dài hạn sau khi những sản phẩm hay dịch vụ hiện tại đã được khai thác triệt để. Ban quản lý nên đề ra những chính sách để đảm bảo duy trì số tiền lãi liên tục trong 10 hoặc 20 năm, thậm chí phải hạ thấp tầm quan trọng của lợi nhuận trước mắt. Ông nhấn mạnh hạ thấp chứ không hi sinh. Nhà quản lý trên cấp trung bình có thể đưa ra những kế hoạch dài hạn của công ty trong khi vẫn tập trung vào những hoạt động điều hành hằng ngày.”
“Sức mạnh của Coca-Cola không chỉ là những sản phẩm mang nhãn hiệu của nó, mà còn là hệ thống phân phối vô địch trên toàn thế giới. Ngày nay, doanh thu bán sản phẩm Coca-Cola trên toàn cầu chiếm 69% tổng doanh thu của công ty và 80% lợi nhuận của nó. Cùng với Amatil Coca-Cola, công ty còn thu lợi nhuận trên vốn tại những nhà máy đóng chai ở Mexico, Nam Mỹ, Đông Nam Á, Đài Loan, Hồng Kông, và Trung Quốc. Trong năm 2003, công ty đã bán hơn 19 tỉ thùng sản phẩm đồ uống.
Buffett nói, công ty tốt nhất để sở hữu là công ty qua thời gian có thể tận dụng lượng vốn lớn với tỉ lệ lợi tức rất cao. Mô tả này hoàn toàn phù hợp với Coca-Cola. Rất dễ hiểu tại sao Buffett lại để ý tới Coca-Cola, nhãn hiệu nổi tiếng nhất trên toàn thế giới, trở thành công ty cấp quyền kinh doanh giá trị nhất thế giới.”
“Theo lối suy nghĩ của Buffett, con đường hợp lý và có trách nhiệm cho những công ty có rất nhiều tiền mặt nhưng không thể tái đầu tư với tỉ lệ trên mức trung bình thì nên hoàn lại cho các cổ đông. Để thực hiện phương án này, có hai lựa chọn: Tăng cổ tức hoặc mua lại cổ phần. Với tiền cổ tức trong tay, các cổ đông có cơ hội tìm kiếm các vụ đầu tư mới để thu được nhiều lợi nhuận hơn. Nhìn bên ngoài, điều này có vẻ như là một vụ làm ăn có lãi, và vì thế cổ tức tăng được coi như một dấu hiệu của các công ty đang làm ăn tốt. Buffett tin tưởng rằng điều này chỉ đúng khi các nhà đầu tư thu được nhiều tiền mặt hơn số mà công ty có thể tạo ra được, nếu công ty giữ lại lợi nhuận và tái đầu tư.”
“Sáu tháng sau khi Washington Post phát hành cổ phiếu lần đầu hồi năm 1971, Katherine Graham đã có cuộc gặp gỡ với các nhà phân tích chứng khoán Phố Wall. Bà nói với họ rằng đầu tiên là phải tối đa hoá lợi nhuận từ hệ thống hoạt động hiện tại của công ty. Lợi nhuận tiếp tục tăng tại các trạm thu phát truyền hình và tờ Newsweek, nhưng khả năng lợi nhuận của tờ báo đang có xu hướng thu hẹp lại. Bà nói, nguyên nhân căn bản là do chi phí sản xuất cao, ví dụ như tiền lương.
Sau khi mua tờ Times Herald, lợi nhuận của Washington Post tăng vọt. Mỗi lần công đoàn bãi công tờ báo (năm 1949, 1958, 1966, 1968, 1969), ban quản lý đều lựa chọn cách đáp ứng nhu cầu của họ, thay vì mạo hiểm ngừng hoạt động tạm thời. Suốt thời gian này, Washington Post vẫn là một trong ba tờ báo nổi tiếng nhất. Suốt những năm 1950 và 1960, chi phí nhân công tăng đã làm giảm lợi nhuận. Bà Graham nói với các nhà phân tích rằng, vấn đề này sẽ được giải quyết.
Trong những năm 1970, khi hợp đồng lao động bắt đầu hết hiệu lực, thì Graham lên danh sách những nhà đàm phán lao động kiên định với công đoàn. Năm 1974, công ty đánh bại một vụ bãi công của nhân viên tờ báo Guild và sau cuộc thương lượng kéo dài, công ty in đã chấp nhận ký kết một hợp đồng mới.
Thời gian đầu những năm 1970, Forbes viết: “Điều tốt đẹp nhất có thể nói về kết quả hoạt động của Washington Post đó là nó xếp hạng C danh dự về khả năng lợi nhuận.” Lợi nhuận biên trước thuế năm 1973 là 10,8%, thấp hơn hẳn lợi nhuận biên 15% trong lịch sử của công ty những năm 1960. Sau vụ thương lượng hợp đồng thành công, vận mệnh của công ty được cải thiện đáng kể. Tới năm 1978, lợi nhuận biên đạt mức 19,3%, tăng 80% trong vòng năm năm.
Lời dự đoán của Buffett đã trở thành sự thực. Tới năm 1988, lợi nhuận trước thuế của Washington Post đạt mức 31,8%, so với mức trung bình của ngành báo chí là 16,9% và chỉ số S&P là 8,6%. Mặc dù, trong những năm gần đây, lợi nhuận biên của công ty giảm đôi chút nhưng vẫn duy trì ở mức cao hơn đáng kể so với tỉ lệ trung bình của ngành.”
“Theo các nhà đầu tư tin vào thuyết hành vi, nỗi đau thua lỗ còn lớn hơn nhiều niềm vui khi có lợi nhuận. Nhiều nghiên cứu của Thaler và những người khác đã chứng minh rằng con người cần thành công nhiều gấp đôi để vượt qua một thất bại. Với tỷ lệ đánh cược chính xác là 50/50, hầu hết mọi người sẽ không bao giờ mạo hiểm trừ phi thành công dự tính cao gấp đôi thất bại dự tính.
Điều này được gọi là ác cảm thất bại không cân xứng: Mặt tiêu cực có ảnh hưởng lớn hơn mặt tích cực, và đó chính là khía cạnh cơ bản trong tâm lý con người. Xét trong thị trường chứng khoán, điều này có nghĩa là các nhà đầu tư cảm thấy thất vọng vì thua lỗ nhiều gấp đôi niềm vui khi chiến thắng.
Ác cảm đối với thua lỗ khiến các nhà đầu tư thận trọng quá mức với giá cao. Tất cả chúng ta đều muốn tin rằng quyết định của mình là đúng đắn. Do đó, chúng ta giữ lại các lựa chọn sai lầm quá lâu với hy vọng mong manh rằng nhiều thứ sẽ thay đổi. Nếu không tin rằng mình từng sai lầm, chúng ta sẽ không bao giờ phải đối mặt với những thất bại do mình gây nên. Nếu không bán đi những sai lầm, bạn không thể tiếp tục kiếm lợi bằng cách tái đầu tư thông minh.”
Ý kiến bạn đọc