
Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 07/8/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Chương trình).
Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả 9 nhiệm vụ sau:
1- Đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia.
2- Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh.
3- Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.
4- Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.
5- Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới.
6- Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển.
7- Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.
8- Xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
9- Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg ngày 05/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Quyết định nêu rõ, tiêu chí phân loại theo ngành, lĩnh vực đối với doanh nghiệp nhà nước và khung tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp để thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp được quy định cụ thể như sau:
Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn Điều lệ hoạt động trong các ngành, lĩnh vực: Doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên; doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; doanh nghiệp xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng quốc gia trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, năng lượng, hạ tầng số quy định tại Nghị định số 366/2025/NĐ-CP; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế…
Doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực: Quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay, vận chuyển hàng không; quản lý khai thác bến cảng tại cảng biển đặc biệt; khai thác khoáng sản quy mô lớn; sản xuất phim hoạt hình do Nhà nước đặt hàng hoặc tài trợ; tài chính, ngân hàng; cơ khí chế tạo; doanh nghiệp bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, khai thác sản xuất, cung cấp nước sạch và thoát nước đô thị, nông thôn…
Doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn, nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 65% vốn điều lệ, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực: Đầu mối nhập khẩu xăng dầu chiếm thị phần từ 30% trở lên, có vai trò bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, bình ổn thị trường; cung cấp dịch vụ viễn thông có tầm quan trọng đặc biệt đối với hạ tầng viễn thông quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh; tìm kiếm, thăm dò, đánh giá trữ lượng các loại khoáng sản (trừ dầu khí).
Ngày 5/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 302/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
Nghị định quy định doanh nghiệp đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa phải đáp ứng các điều kiện sau:
1. Là doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam, trường hợp là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổng tỷ lệ vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài không được quá 49%.
2. Vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng trở lên.
3. Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành an toàn, ổn định và bảo mật.
4. Có mô hình, tổ chức hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa và có giải pháp, lộ trình niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam.
5. Có Dự thảo Điều lệ hoạt động đáp ứng quy định tại Điều 13 Nghị định này.
Ngày 8/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định hoạt động của sàn dữ liệu, trong đó quy định điều kiện tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu của các tổ chức, cá nhân.
Cụ thể, điều kiện tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu của các tổ chức, cá nhân được quy định như sau:
Tổ chức là pháp nhân Việt Nam được thành lập và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam; không đang trong quá trình chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.
Tổ chức là pháp nhân nước ngoài phải được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật nơi pháp nhân đó đặt trụ sở; đáp ứng các điều kiện tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật dân sự và các quy định khác có liên quan; có hiện diện thương mại, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 318/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phục hồi, phá sản về các trường hợp không áp dụng đối với hợp đồng phái sinh có điều khoản về thanh toán ròng.
Đối với trường hợp không tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 51 Luật Phục hồi, phá sản, Nghị định quy định:
Hợp đồng phái sinh lãi suất có điều khoản về thanh toán ròng đang có hiệu lực tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản hoặc tại thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản không bị tạm đình chỉ, không bị đình chỉ theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 51 Luật Phục hồi, phá sản.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026 phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược (Chương trình).
Chương trình đặt mục tiêu tổng quát là làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa được các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển các công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi; hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 04/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược".
Mục tiêu của Đề án nhằm phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hiện đại, đồng bộ, kết nối và khai thác dùng chung trên phạm vi toàn quốc, tập trung vào các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và sản phẩm công nghệ chiến lược; trong đó một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiệm cận trình độ các nước phát triển. Từng bước hình thành năng lực quốc gia về nghiên cứu, thử nghiệm, đo lường, kiểm định, đánh giá sự phù hợp, sản xuất thử và thương mại hóa công nghệ…
Chính phủ ban hành Nghị định số 304/2026/NĐ-CP ngày 03/8/2026 huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân.
Nghị định quy định việc huy động tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân được thực hiện thông qua các phương thức sau đây:
1. Tự nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật.
2. Thỏa thuận giữa Bộ Công an và cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật.
3. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an và cơ quan, tổ chức sở hữu tiềm lực khoa học và công nghệ, kỹ thuật. Phương thức huy động này chỉ áp dụng đối với tài sản công được giao cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng và chỉ được sử dụng trong trường hợp không thực hiện được các phương thức huy động theo quy định tại khoản 1, 2 nêu trên. Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định áp dụng phương thức huy động này.
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 11/8/2026 phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 (Chương trình).
Mục tiêu của Chương trình nhằm phát triển đội ngũ nhân lực trí tuệ nhân tạo có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số; đưa năng lực sử dụng và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trở thành một trong những năng lực thiết yếu của người học, người lao động, đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 13/8/2026 ban hành Khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng về quản trị dữ liệu.
Mục tiêu nhằm thiết lập Khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng về quản trị dữ liệu (Khung đào tạo) thống nhất trên phạm vi toàn quốc, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương xây dựng, tổ chức triển khai hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về quản trị dữ liệu; từng bước chuẩn hóa năng lực quản trị dữ liệu của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng có liên quan, đáp ứng yêu cầu triển khai Luật Dữ liệu, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và đổi mới sáng tạo.
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg ngày 12/8/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 123-TB/VPTW ngày 16/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về chất lượng nguồn lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm bền vững ở nông thôn, đô thị, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển mới (Kế hoạch).
Kế hoạch yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện đầy đủ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp: (1) tạo việc làm bền vững ở đô thị gắn với mô hình tăng trưởng mới, phát triển doanh nghiệp và nâng cao chất lượng sống; (2) tạo việc làm bền vững ở nông thôn gắn với nâng cao giá trị lao động, thúc đẩy chuyển dịch lao động có kỹ năng và bảo đảm sinh kế bền vững; (3) tạo việc làm bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với khơi dậy nội lực, giảm nghèo bền vững và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; (4) đổi mới đào tạo nguồn nhân lực gắn với xây dựng hệ thống phát triển kỹ năng quốc gia, chuyển từ đáp ứng nhu cầu trước mắt sang chuẩn bị năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia; (5) mở rộng các kênh tạo việc làm, nâng cao kỹ năng của người lao động và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc ký Công điện số 56/CĐ-TTg ngày 21/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đối với hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.
Tại Công điện, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị, địa phương tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm đối với hoạt động vận tải trên đường bộ, đặc biệt là vi phạm về điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô của chủ xe, nhà xe, lái xe chở người khối lượng lớn, xe chở khách 02 tầng có giường nằm; chỉ đạo điều tra, làm rõ nguyên nhân các vụ tai nạn giao thông, xử lý các hành vi vi phạm theo quy định; nghiên cứu, đánh giá các tiêu chí đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách trên đường bộ tiến tới có phương án xếp hạng chất lượng, an toàn...
Chính phủ ban hành Nghị định số 319/2026/NĐ-CP ngày 13/8/2026 quy định về thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách trên phương tiện giao thông đường bộ.
Về yêu cầu kỹ thuật đối với thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ, Nghị định quy định như sau:
1. Thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ phải bảo đảm ghi nhận được các dữ liệu sau đây:
a) Dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình gồm: Hành trình xe chạy, tốc độ vận hành của xe, thông tin về số lần và thời gian dừng xe, đỗ xe, thời gian lái xe liên tục;
b) Dữ liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe được ghi nhận liên tục trong mọi điều kiện ánh sáng về hình ảnh của người lái xe;
c) Dữ liệu thu được từ thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách được ghi nhận liên tục trong mọi điều kiện ánh sáng, gồm: Hình ảnh trong khoang chở khách, hình ảnh người lên xe, người xuống xe;
d) Các dữ liệu khác theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
2. Thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ có chức năng tự động phát hiện, tự động cảnh báo an toàn đối với hành vi vi phạm pháp luật, hành vi gây mất an toàn về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của người lái xe, người trong khoang chở khách được cụ thể trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.
3. Trường hợp thiết bị giám sát trên phương tiện giao thông đường bộ thực hiện chức năng được quy định tại khoản 2 nêu trên bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Chính phủ ban hành Nghị định 327/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.
Nghị định này quy định chi tiết Điều 14 Luật An ninh mạng, bao gồm các nội dung sau:
1. Biện pháp phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.
2. Thẩm quyền của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp trong nước và nước ngoài cung cấp dịch vụ mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng, chủ quản hệ thống thông tin, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.
3. Cơ chế phối hợp trong phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.
Chính phủ ban hành Nghị định số 329/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
Điều 16 của Nghị định nêu rõ: Người được tuyển chọn, tiếp nhận, bố trí, sử dụng, giao nhiệm vụ hoặc ký kết hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được hưởng tiền lương, tiền công, thù lao, phụ cấp, hỗ trợ và chế độ khác theo quy định của pháp luật, phù hợp với hình thức sử dụng, vị trí việc làm, chức danh, chức vụ, tính chất nhiệm vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Người thuộc biên chế lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng hoặc thuộc diện đãi ngộ, thu hút nhân tài, ngoài chế độ tiền lương, phụ cấp và chế độ khác theo quy định của pháp luật, được xem xét hưởng hỗ trợ tăng thêm hằng tháng theo một trong các mức sau: Mức 1, tối đa bằng 100% mức lương; mức 2, tối đa bằng 200% mức lương; mức 3, tối đa bằng 300% mức lương.
Chính phủ ban hành Nghị định số 330/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Nghị định này gồm 4 chương, 82 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Trong đó, đáng chú ý là quy định xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân: Phạt đến 60 triệu đồng đối với hành vi chống đối, cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân của tổ chức, cá nhân; phạt đến 50 triệu đồng đối với hành vi xử lý dữ liệu cá nhân thu thập khi chưa có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân.
Chính phủ ban hành Nghị định số 331/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin.
Nghị định này quy định chi tiết khoản 2 Điều 8, khoản 5 Điều 9, khoản 6 Điều 10, khoản 5 Điều 12 Luật An ninh mạng, cụ thể: tiêu chí xác định cấp độ hệ thống thông tin; quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác định cấp độ hệ thống thông tin và biện pháp, trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm an ninh mạng theo từng cấp độ của hệ thống thông tin; tiêu chí xác định hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin; biện pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin; kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức không thuộc danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Chính phủ ban hành Nghị định số 332/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Trong đó, quy định chi tiết điều kiện đối với doanh nghiệp kinh doanh loại sản phẩm, dịch vụ này.
Nghị định quy định tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng khi đáp ứng đủ điều kiện sau đây:
Được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, không vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Đối với các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thời hạn đầu tư tại Việt Nam phải còn nhiều hơn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải đáp ứng điều kiện về nhân sự, về kỹ thuật.
Chính phủ ban hành Nghị định số 333/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến hoạt động bảo đảm an ninh thông tin mạng của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài trên không gian mạng tại Việt Nam.
Điều 16 của Nghị định nêu rõ: Doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam phải thực hiện các hoạt động bảo đảm an ninh thông tin mạng theo quy định tại Điều này và quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 39/2026/NQ-CP ngày 25/8/2026 về cơ chế chuyển tiếp sử dụng nhãn, bao bì hàng hóa đã in tên cũ khi doanh nghiệp thay đổi tên nhưng không thay đổi pháp nhân và chủ thể chịu trách nhiệm về hàng hóa.
Theo quy định, doanh nghiệp thay đổi tên được tiếp tục sử dụng nhãn, bao bì đã in tên cũ để ghi nhãn, đóng gói hàng hóa trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi nhận tên mới.
Hàng hóa được ghi nhãn, đóng gói bằng nhãn, bao bì đã in tên cũ trong thời hạn quy định trên được tiếp tục lưu thông đến hết hạn sử dụng của hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 310/2026/NĐ-CP ngày 5/8/2026 quy định quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử như sau:
1. Cổng Dịch vụ công quốc gia tiếp nhận yêu cầu, kiểm tra tự động về mặt kỹ thuật. Nếu hồ sơ đã đủ các thành phần và bảo đảm về mặt kỹ thuật thì phản hồi tự động xác nhận tổ chức, cá nhân đã gửi thành công và thông báo về thời điểm hệ thống tiếp nhận hồ sơ.
2. Cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ đăng nhập Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và kiểm tra hồ sơ điện tử tổ chức, cá nhân gửi đến.
3. Sau khi kiểm tra, nếu bảo đảm các điều kiện để tiếp nhận, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận và xử lý hồ sơ theo quy trình quy định tại Chương III Nghị định số 118/2025/NĐ-CP và các quy định của pháp luật có liên quan.
4. Những thông tin, thành phần hồ sơ được nêu tại mục 2 ở trên sau khi được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và ghi nhận tính chính xác được lưu giữ tại Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân tại Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính.
5. Việc tiếp nhận, giải quyết đối với thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến chủ động được thực hiện theo quy định Luật Chuyển đổi số, Luật Dữ liệu và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các Luật này.
Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về định danh địa điểm.
Theo đó, mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, đảm bảo tính liên tục và ổn định, không trùng lặp trong toàn hệ thống.
Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập. Mỗi địa điểm được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm tính ổn định, mở rộng và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 5/8/2026 về thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 - 2027.
Trong đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo phải đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, bảo đảm thực chất, hiệu quả; giảm áp lực thi cử; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trường học; tăng cường phòng, chống gian lận trong các kỳ thi, nhất là trong Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định. Chỉ đạo, hướng dẫn địa phương rà soát, cắt giảm các kỳ thi, cuộc thi không cần thiết; giảm áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh....
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1472/QĐ-TTg ngày 3/8/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc về công tác chuẩn bị năm học 2026 - 2027 và tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Kế hoạch).
Một trong những nhiệm vụ đặt ra tại Kế hoạch là Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương rà soát kỹ các vấn đề về bảo đảm điều kiện học tập của học sinh như: phòng học, phòng học bộ môn, sách giáo khoa, thiết bị dạy học tối thiểu, nước sạch, nhà vệ sinh, điện, internet, an toàn trường học, học sinh có nguy cơ bỏ học... Khuyến khích các địa phương chủ động sử dụng ngân sách địa phương và nguồn lực hợp pháp khác theo quy định để hỗ trợ thiết thực cho học sinh trong năm học mới, nhất là học sinh ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, các khu công nghiệp, khu chế xuất; tập trung hỗ trợ bữa ăn trưa, bữa ăn bán trú, thiết bị, đồ dùng học tập, phương tiện đi lại cho học sinh. Kiên quyết không để học sinh do hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường...
Chính phủ ban hành Nghị quyết 37/2026/NQ-CP ngày 5/8/2026 về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập cấp tỉnh, cấp xã.
Về cơ cấu, số lượng, chế độ bảo lưu phụ cấp chức vụ đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, Nghị quyết quy định:
1- Hiệu trưởng hoặc giám đốc: Mỗi cơ sở giáo dục có 01 hiệu trưởng hoặc 01 giám đốc.
2- Phó hiệu trưởng hoặc phó giám đốc:
a) Đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên: Trường chính được bố trí 01 phó hiệu trưởng hoặc 01 phó giám đốc; mỗi phân hiệu được bố trí 01 phó hiệu trưởng hoặc 01 phó giám đốc;
b) Đối với trường trung cấp, trường trung học nghề: Số lượng phó hiệu trưởng thực hiện theo quy định của pháp luật về số lượng cấp phó;
c) Đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên: Trụ sở chính được bố trí 01 phó giám đốc, mỗi phân hiệu được bố trí 01 phó giám đốc.
3. Sau khi sắp xếp theo quy định tại 1 và 2 mục này, số hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc còn lại của các cơ sở giáo dục trước khi sắp xếp được bố trí như sau:
a) Bố trí vào vị trí việc làm nhà giáo hoặc vị trí việc làm khác phù hợp với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên ngành đào tạo của hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc sau sắp xếp;
b) Số lượng hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc còn lại sau khi sắp xếp đủ theo quy định tại a nêu trên nếu có nguyện vọng nghỉ việc thì thực hiện giải quyết chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế.
4. Trường hợp hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc thôi giữ chức vụ hoặc được bổ nhiệm chức vụ mới có mức phụ cấp chức vụ thấp hơn do thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục thì được bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2025).
Chính phủ ban hành Nghị định số 308/2026/NĐ-CP ngày 5/8/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp về chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp và Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp.
Nghị định quy định một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp như: Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề; hỗ trợ kinh phí đào tạo cho doanh nghiệp trong trường hợp đào tạo trình độ sơ cấp cho người yếu thế; đào tạo các ngành, nghề ưu tiên hoặc khó xã hội hóa...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1624/QĐ-TTg ngày 21/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030.
Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số nội dung về hoàn thiện chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ, cụ thể: Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật liên quan, trong đó chú trọng cập nhật các vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ liên quan đến các xu hướng khoa học và công nghệ hiện đại của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), để có các đề xuất điều chỉnh pháp luật phù hợp; tăng cường chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, đảm bảo tính răn đe, đặc biệt đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ...
Về giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Quyết định số 1624/QĐ-TTg bổ sung nhiệm vụ nghiên cứu áp dụng cơ chế tài chính, chính sách nhân lực đặc thù để phát triển đội ngũ công chức, viên chức và chuyên gia sở hữu trí tuệ có trình độ cao.
Đơn giản hóa và minh bạch hóa thủ tục, cắt giảm chi phí và rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường kỹ thuật số.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 18/8/2026 phê duyệt Đề án "Chương trình học bổng toàn phần dành cho các nhà khoa học trẻ, sinh viên xuất sắc đi đào tạo tại các trường đại học hàng đầu thế giới về các công nghệ chiến lược" (Đề án).
Mục tiêu của Đề án nhằm phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược phục vụ trực tiếp cho mục tiêu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và một số lĩnh vực phục vụ đổi mới mô hình phát triển đất nước thông qua việc cấp học bổng toàn phần cho sinh viên xuất sắc và các nhà khoa học trẻ đi đào tạo, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu thế giới.
Đề án phấn đấu đến hết năm 2035, tuyển chọn, cấp học bổng toàn phần cho 1.500 người đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, dự kiến.
Chính phủ ban hành Nghị định số 334/2026/NĐ-CP ngày 20/8/2026 quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian.
Đáng chú ý, đối với nội dung tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Nghị định nêu rõ các quy định tự chủ về: Hoạt động giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cơ cấu tổ chức, nhân sự; tài chính, tài sản và đầu tư của cơ sở giáo dục.
Tại Nghị định số 307/2026/NĐ-CP ngày 4/8/2026, Chính phủ quy định chi tiết chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số gồm: Chính sách hỗ trợ về thông tin; chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần; chính sách khen thưởng; chính sách tiếp đón.
Nghị định quy định Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần người có uy tín như:
- Thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết hoặc lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số; tối đa 03 lần/người/năm; mức chi 1.000.000 đồng/người/lần.
- Thăm hỏi, hỗ trợ người có uy tín bị ốm đau không quá 01 lần/năm. Mức chi theo thực tế, tối đa: 5.000.000 đồng/người khi điều trị bệnh tại cấp khám bệnh, chữa bệnh chuyên sâu; 3.000.000 đồng/người khi điều trị tại cấp khám chữa bệnh cơ bản; 1.000.000 đồng/người khi điều trị tại cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu…
Chính phủ ban hành Nghị định số 337/2026/NĐ-CP ngày 26/8/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin.
Trong đó, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Nghị định quy định các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin bao gồm: Căn cứ vào điều kiện thực tế, cơ quan, đơn vị trang bị, sử dụng các công nghệ, thiết bị hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận thông tin phù hợp với dạng tật; tạo điều kiện cho người yêu cầu cung cấp thông tin sử dụng các thiết bị nghe, nhìn, các thiết bị phụ trợ và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để tiếp cận thông tin; bố trí người hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ người khuyết tật gặp khó khăn trong việc điền Phiếu, ký Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin hoặc khó khăn trong việc tiếp cận thông tin; tăng cường các hình thức cung cấp thông tin cho người khuyết tật phù hợp với khả năng tiếp cận của người yêu cầu và điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị...
Đồng thời, Nghị định quy định việc cung cấp thông tin được thực hiện bằng các biện pháp phù hợp với từng đối tượng, điều kiện tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, bao gồm: Thông qua cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức của cơ quan, đơn vị; thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình, trong đó có chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc và hệ thống thông tin cơ sở;...

Chính phủ ban hành Nghị định số 321/2026/NĐ-CP ngày 15/8/2026 quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.
Nghị định quy định tăng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng từ 2.789.000 đồng lên 3.012.000 đồng.
Mức chuẩn trên làm căn cứ để tính mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng.
Chính phủ ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 quy định chính sách trợ giúp xã hội.
Mức chuẩn trợ giúp xã hội mới áp dụng từ ngày 1/7/2026 là 540.000 đồng/tháng (quy định cũ là 500.000 đồng).
Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này.
Chính phủ ban hành Nghị định số 338/2026/NĐ-CP ngày 26/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của 03 Nghị định của Chính phủ về chế độ trợ cấp một lần khi thôi phục vụ trong Quân đội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng.
Trong đó, Nghị định số 338/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 2 Nghị định số 21/2009/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 52/2025/NĐ-CP quy định về chế độ, chính sách đối với sĩ quan nghỉ hưu theo hướng nâng mức hưởng trợ cấp cho mỗi năm nghỉ hưu trước hạn tuổi từ 3 tháng lên mức 5 tháng tiền lương hiện hưởng.
Ngoài ra, sĩ quan khi nghỉ hưu trước hạn tuổi cao nhất theo cấp bậc quân hàm không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước hạn tuổi. Đồng thời được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có) theo quy định pháp luật hiện hành và được trợ cấp một lần theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 4/8/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Chương trình đưa ra 9 giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới gồm: 1- Tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, huy động sự tham gia của toàn xã hội trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; 2- Hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi; 3- Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; 4- Giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường; phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường; 5- Bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên; 6- Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai; 7- Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, tăng cường quản lý phát thải khí nhà kính; 8- Phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực; 9- Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Công điện số 54/CĐ-TTg ngày 17/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ ngành, địa phương chủ động ứng phó nguy cơ mưa lớn, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Thường trực Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức trực ban nghiêm túc, theo dõi sát diễn biến thời tiết, thiên tai; dự báo, cảnh báo, thông tin kịp thời về tình hình mưa lũ, thiên tai tới các cơ quan chức năng và người dân; chủ động chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, tuyệt đối không để bị động, bất ngờ.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố báo cáo cấp ủy và trực tiếp chỉ đạo, tổ chức triển khai ngay công tác ứng phó thiên tai trên địa bàn, nhất là ứng phó nguy cơ mưa lớn, ngập lụt, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Công điện số 57/CĐ-TTg ngày 21/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục chủ động ứng phó thiên tai, tập trung khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ.
Công điện yêu cầu phải cảnh báo, thông tin kịp thời về diễn biến của áp thấp nhiệt đới, mưa lũ tới người dân; hỗ trợ địa phương khắc phục nhanh các tuyến giao thông bị sạt lở, chia cắt; bảo đảm an toàn đối với tàu thuyền, phương tiện hoạt động trên sông, trên biển...
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn