
Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng của đất nước. Trong suốt quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân luôn được xác định là điều kiện quan trọng bảo đảm ổn định chính trị-xã hội và tạo nền tảng cho phát triển.
Quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm, nhân dân là chủ thể của sự nghiệp đổi mới tiếp tục đặt ra yêu cầu phải không ngừng đổi mới phương thức tập hợp, vận động, phát huy sức mạnh của nhân dân.
Theo nhiều chuyên gia, giai đoạn hiện nay, yêu cầu đó đang được đặt trong một không gian quản trị hoàn toàn mới; trong đó, đại đoàn kết không thể chỉ được tiếp cận từ yêu cầu tập hợp lực lượng, cần chuyển mạnh sang kết nối các cộng đồng, hài hòa lợi ích, xây dựng đồng thuận xã hội, huy động sự tham gia của nhân dân vào quá trình phát triển.
Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc theo hướng gần dân, sát dân, hiểu dân, đại diện cho tiếng nói, lợi ích chính đáng của nhân dân; đồng thời nâng cao năng lực tham vấn chính sách, đối thoại, giám sát, phản biện xã hội, nắm bắt và dự báo tình hình nhân dân, kết nối các nguồn lực xã hội, kiến tạo đồng thuận.
Ông Lê Mậu Nhiệm, nguyên Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh đoàn kết chỉ bền vững khi lợi ích của các lực lượng xã hội được đặt trong quan hệ hài hòa với lợi ích chung của đất nước.
"Điểm tương đồng" của đại đoàn kết không đồng nghĩa với sự đồng nhất về hoàn cảnh, nhu cầu hay lợi ích. Đại đoàn kết trong bối cảnh mới cần được nhìn nhận như năng lực tìm ra mẫu số chung, đồng thời tạo điều kiện để những lợi ích đa dạng, hợp pháp, chính đáng được bày tỏ, đối thoại và phản ánh vào chính sách. Đại hội XIV của Đảng xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là "nền tảng sức mạnh quốc gia," yêu cầu "giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển."
Đây là chỉ dẫn quan trọng để công tác đại đoàn kết không chỉ dừng ở tập hợp lực lượng mà đi sâu vào chất lượng các quan hệ xã hội.Theo ông Lê Mậu Nhiệm, đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới phải được xây dựng trên mục tiêu, niềm tin và lợi ích chung của quốc gia-dân tộc, đồng thời tôn trọng sự đa dạng, những nhu cầu chính đáng của từng giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, cộng đồng và mỗi người dân.
Trong quá trình ấy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vị trí đặc biệt. Mặt trận cần tiếp tục chuyển mạnh từ vận động một chiều sang lắng nghe-đối thoại-đại diện-giám sát-phản biện và theo dõi việc giải quyết kiến nghị đến cùng. Khi Mặt trận làm tốt trách nhiệm này, khối đại đoàn kết sẽ được củng cố từ nền tảng sâu nhất: niềm tin, công bằng và sự đồng hành của nhân dân với sự nghiệp phát triển đất nước.
Từ kinh nghiệm địa phương, bà Trần Thị Phương Hoa, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội cho biết: Từ ngày 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai trên phạm vi cả nước.
Đối với Hà Nội, sau sắp xếp, thành phố chấm dứt hoạt động của 30 quận, huyện, thị xã; chuyển từ mô hình quản trị địa phương ba cấp sang hai cấp. Số đơn vị hành chính cấp xã giảm từ 526 xuống còn 126 đơn vị, giảm 400 đầu mối, tương đương 76%; giảm 5.467 thôn, tổ dân phố còn 2.755 thôn, tổ dân phố tương đương 50,39%. Cùng với đó, bộ máy các sở, ngành và hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội cũng được tổ chức lại theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối trung gian và tăng khả năng điều phối trực tiếp tới cơ sở.
Chính quyền, Mặt trận và nhân dân chuyển từ quan hệ "quản lý - chấp hành" sang "Nhà nước - công dân" trong nền quản trị phục vụ. Mặt trận Tổ quốc từ "cầu nối một chiều" trở thành "cầu nối hai chiều." Từ phối hợp công việc sang phối hợp trong quản trị xã hội... Thực tiễn Hà Nội cho thấy, quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp đang diễn ra đồng thời với những biến đổi nhanh chóng của cấu trúc xã hội, chuyển đổi số và nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân.
Vì vậy, vấn đề của công tác đại đoàn kết hiện nay không chỉ là tập hợp đông đảo nhân dân, quan trọng hơn là kết nối các nhóm xã hội, hài hòa lợi ích, tạo đồng thuận và huy động sự tham gia của nhân dân vào phát triển.
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đang xây dựng Chiến lược Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là Chiến lược có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, góp phần đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Việc xây dựng Chiến lược đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu cụ thể tại Kế hoạch số 21-KH/TW ngày 28/11/2023 về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII "về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc."
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã đưa "Xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045" trong nội dung XII - Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI (nhiệm kỳ 2026 - 2031) cũng đã đưa nội dung "Xây dựng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045" vào chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tiến sỹ Nguyễn Tiến Dĩnh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ nêu rõ: Những yêu cầu đặt ra cho chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam những năm tới cần kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, đồng tâm nhất trí vì đất nước của dân tộc Việt Nam; phát huy vai trò, sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, là Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Bên cạnh đó, củng cố, phát huy mạnh mẽ khối liên minh các giai cấp, các tầng lớp, dân tộc, tôn giáo trong xã hội để cùng với hệ thống chính trị bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Phát triển đất nước, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, đảm bảo công bằng xã hội. Phát huy dân chủ, thực hiện đồng thuận xã hội trong mọi công việc. Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vì sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội trong tập hợp đoàn kết rộng rãi để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận xã hội.
Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để đảm bảo Đảng luôn luôn vững mạnh, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là tăng tốc, bứt phá xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Quan trọng hơn, Việt Nam phải là đất nước giàu mạnh, phồn vinh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mục tiêu đó là động lực to lớn, cơ bản để tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại để xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Vì vậy, muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những yêu cầu trên cần được xem xét, thực hiện đồng bộ có hiệu quả để tập hợp, thu hút được sức mạnh của cả dân tộc cùng đồng hành với Đảng, Nhà nước bước vào kỷ nguyên mới để hiện thực hóa được mục tiêu đề ra - Tiến sỹ Nguyễn Tiến Dĩnh khẳng định./.
Nguồn tin: TTXVN/Vietnam+
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn