Ngoại giao văn hóa: Từ quảng bá hình ảnh đến kiến tạo sức mạnh quốc gia

Thứ bảy - 29/08/2026 22:49
Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Chính phủ, Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ khẳng định, trong giai đoạn mới, tư duy về ngoại giao văn hóa phải tương xứng với tầm vóc, vị thế và khát vọng phát triển của đất nước. Ngoại giao văn hóa không chỉ quảng bá hình ảnh mà phải lan tỏa các giá trị Việt Nam, đóng góp vào những giá trị chung của nhân loại và chuyển hóa “sức mạnh mềm” thành lòng tin, sự đồng tình, ủng hộ và hợp tác quốc tế.
Ngoại giao văn hóa: Từ quảng bá hình ảnh đến kiến tạo sức mạnh quốc gia- Ảnh 1.
Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ - Ảnh: chinhphu.vn/MT

Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh đối ngoại không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc, tầm vóc Việt Nam và lan tỏa các giá trị văn minh Việt Nam; đồng thời yêu cầu chuyển hóa "sức mạnh mềm" thành sự đồng tình, ủng hộ và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.

Ngoại giao văn hóa phải tương xứng với tầm vóc mới của đất nước

Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, trước khi nói về ngoại giao văn hóa phải nói về đối ngoại; sau 40 năm Đổi mới, đất nước đã tạo dựng được vị thế mới. Vì vậy, đối ngoại phải tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của dân tộc, đồng thời đáp ứng các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045.

Điều này đòi hỏi đối ngoại Việt Nam chuyển từ thế tiếp nhận sang chủ động kiến tạo cơ hội, vị thế và những điều kiện cần thiết cho đất nước phát triển trong quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế. Trong quá trình kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đối ngoại phải đặt Việt Nam vào dòng chảy chính của thời đại, chủ động tham gia tích cực vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại.

"Đối ngoại không chỉ là ngoại giao văn hóa, đối ngoại phải xứng với tầm vóc của dân tộc khi bước vào kỷ nguyên mới; phải chủ động kiến tạo, chứ không chỉ ngồi chờ thời cơ đến rồi tiếp thu; đồng thời phải đi cùng những giá trị chung của nhân loại và đóng góp vào nền văn minh nhân loại. Ngoại giao văn hóa cũng phải tương xứng với tầm vóc và tầm nhìn chiến lược mới của đất nước và của đối ngoại Việt Nam", Đại sứ Phạm Quang Vinh nhấn mạnh.

Đại sứ Phạm Quang Vinh cho rằng, trong các nghị quyết chỉ đạo, đặc biệt là những nghị quyết liên quan đến văn hóa (Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam…), văn hóa được xác định là một trụ cột quan trọng, là nguồn lực nội sinh tạo thêm động lực phát triển đất nước, đồng thời mở ra những cơ hội và nguồn lực cho hội nhập quốc tế. Với bề dày văn hóa dân tộc, tư duy đối ngoại hiện nay không thể chỉ dừng ở vị thế thụ động mà phải phát huy và lan tỏa các giá trị, bản sắc Việt Nam.

Đại sứ Phạm Quang Vinh nhấn mạnh điểm quan trọng ở hai chữ "lan tỏa". Theo Đại sứ, ngoại giao văn hóa không chỉ quảng bá để thế giới biết đến Việt Nam mà còn phải chia sẻ những giá trị Việt Nam trong quá trình Việt Nam đóng góp vào cái chung của thế giới, vào nền văn minh nhân loại. Từ đó, sức mạnh mềm của Việt Nam phải được chuyển hóa thành động lực và sự cảm nhận của cộng đồng quốc tế, để Việt Nam nhận được sự ủng hộ, đồng hành và chia sẻ.

Có thể khái quát yêu cầu đối với ngoại giao văn hóa trong tư duy chiến lược mới ở ba điểm: Phải xứng tầm với đất nước; phải bắt kịp nhiệm vụ chiến lược mới của đối ngoại là chủ động kiến tạo và phải thực hiện những nhiệm vụ phù hợp với thời kỳ mới.

Từ quảng bá hình ảnh đến tạo dựng lòng tin

Một trong những yêu cầu quan trọng được đặt ra trong Nghị quyết số 06-NQ/TW là chuyển hóa "sức mạnh mềm" thành sự đồng tình, ủng hộ, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.

Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, để làm được điều đó, ngoại giao văn hóa cần được nhìn nhận theo hai chiều: Vừa lan tỏa các giá trị Việt Nam để thế giới hiểu, chia sẻ và ủng hộ Việt Nam, vừa chủ động đóng góp vào những giá trị chung của thế giới.

Việt Nam có truyền thống hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, hợp tác. Đây vừa là truyền thống lịch sử, vừa là những giá trị được tiếp nối trong Việt Nam ngày nay. Những câu chuyện về quá trình giành độc lập, trải qua các cuộc chiến tranh để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, cũng như quá trình phát triển, tăng trưởng trong những bối cảnh quốc tế khó khăn đã tạo nên những dấu ấn trong nhận thức của cộng đồng quốc tế.

"Người ta nhìn đến Việt Nam vừa là biểu tượng của độc lập, vừa là biểu tượng của phát triển. Đây là câu chuyện chúng ta cần kể nhiều hơn nữa", Đại sứ Phạm Quang Vinh nói.

Cùng với đó là chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam. Trong quan hệ với các nước cũng như khi tham gia đóng góp vào các vấn đề quốc tế, Việt Nam lấy hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển và luật pháp quốc tế làm nền tảng. Trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp, cạnh tranh giữa các nước lớn, xung đột và chiến tranh diễn ra ở nhiều nơi, những nguyên tắc đó càng có ý nghĩa.

Từ kinh nghiệm tham gia nhiều diễn đàn quốc tế và đa phương, trong đó có Liên Hợp Quốc và ASEAN, Đại sứ Phạm Quang Vinh cho biết, điều ông nhận thấy là cộng đồng quốc tế, từ các quan chức đến người dân, đánh giá cao chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam, cũng như tinh thần yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, bản lĩnh và sự tự chủ của Việt Nam trước những khó khăn, sức ép từ nhiều chiều.

"Chính sự nhất quán đó tạo nên lòng tin chiến lược. Và lòng tin chiến lược sẽ là một yếu tố rất quan trọng để tranh thủ sự đồng tình, chia sẻ và ủng hộ của người dân thế giới", ông nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo Đại sứ, chỉ tạo dựng hình ảnh và thiện cảm là chưa đủ. Việt Nam phải đóng góp được vào những giá trị chung, đồng thời chia sẻ được những giá trị của mình với thế giới.

Trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, việc nhấn mạnh một trật tự dựa trên luật pháp quốc tế, tôn trọng các quốc gia dù lớn hay nhỏ là vấn đề quan trọng. Cùng với đó, thế giới đang đứng trước những yêu cầu rất lớn về phát triển, đòi hỏi sự hợp tác và chia sẻ quốc tế trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, thương mại, đầu tư đến chuỗi cung ứng, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, những hợp tác đó phải được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế và cùng có lợi. Sự đan xen lợi ích và chia sẻ lợi ích sẽ góp phần tăng cường lòng tin chiến lược, đồng thời tạo thêm thiện cảm đối với Việt Nam.

"Vì vậy, nếu muốn tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, chúng ta phải đi cao hơn việc chỉ tuyên truyền, quảng bá", Đại sứ nhấn mạnh.

Việt Nam đã có sẵn những vốn quý về truyền thống, bản sắc, đất nước và con người; thế giới đã yêu chuộng Việt Nam và nhìn Việt Nam như một biểu tượng về độc lập, đổi mới và phát triển. Sự nhất quán trong chính sách đối ngoại tiếp tục tạo nên bản lĩnh Việt Nam và lòng tin chiến lược.

Vấn đề quan trọng tiếp theo là phải gắn hợp tác với chia sẻ lợi ích. Khi tham gia vào đời sống quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục nhất quán với những giá trị đã được khẳng định: Hòa bình, hợp tác phát triển và thượng tôn luật pháp quốc tế.

Như vậy, từ góc nhìn ngoại giao văn hóa, sức mạnh mềm không nên chỉ được đo bằng mức độ Việt Nam được biết đến, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa sự nhận biết đó thành thiện cảm, lòng tin, sự đồng tình và những hợp tác có lợi ích đan xen. Đây cũng là bước chuyển từ tư duy "quảng bá hình ảnh" sang chủ động tạo dựng vị thế và gia tăng sức mạnh quốc gia thông qua văn hóa.

Phải biến tài nguyên văn hóa thành thương hiệu quốc gia

Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, song việc chuyển hóa những giá trị đó thành sức mạnh mềm và tạo ảnh hưởng quốc tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, quá trình này cần giải quyết đồng thời ba vấn đề: Định hình và cô đọng tài nguyên sức mạnh mềm của Việt Nam để đưa ra thế giới; truyền thông để nhân lên giá trị và tạo sự chia sẻ; cuối cùng là xây dựng mạng lưới kết nối quốc tế.

Trước hết, Việt Nam cần đúc kết các giá trị bản sắc để tạo ra một bộ nhận diện Việt Nam. Bộ nhận diện không phải một định nghĩa đóng khung mà phải trở thành cơ sở để hành động và nhấn mạnh những giá trị của Việt Nam. Đó có thể là hình ảnh một đất nước anh hùng, bất khuất vì độc lập, tự do, yêu chuộng hòa bình hay hình ảnh người Việt Nam cần cù, nhân hậu qua các thế hệ.

Nhưng điều quan trọng là những giá trị đó phải được đúc rút theo cách không chỉ để người Việt Nam nhận thức mà còn để người dân thế giới có thể cảm nhận được.

Đại sứ Phạm Quang Vinh cụ thể hóa câu chuyện về phở. Phở Việt Nam đã được thế giới biết đến, nhưng theo ông, Việt Nam cần đầu tư hơn nữa để phở thực sự trở thành một thương hiệu quốc gia. Hiện nay, phở chủ yếu được tận dụng một cách tự nhiên để trở thành một "mùi hương" chung của thế giới, do vậy, những sản phẩm mang tính biểu tượng, như phở, cần phải có một chiến lược bài bản."

"Chúng ta cần nâng những giá trị như vậy lên bản đồ thế giới bằng một chiến lược, để phở trở thành một trong những điểm nhận diện Việt Nam: Nhắc đến Việt Nam là nhắc đến phở, nhắc đến phở là nghĩ đến Việt Nam. Nhưng để làm được điều đó, phải đầu tư bài bản", ông nói.

Từ câu chuyện phở, Đại sứ cho rằng cần tiếp tục nhận diện những giá trị khác có khả năng trở thành thương hiệu quốc gia. Trong đó, hệ giá trị Việt Nam cần được nhìn nhận ở ba góc độ: nhìn lại toàn bộ lịch sử, truyền thống dân tộc; đặt những giá trị đó trong tâm thế và tư duy chiến lược mới của Việt Nam khi bước vào kỷ nguyên mới, hướng tới các mục tiêu 2030 - 2045; đồng thời sử dụng những cách tiếp cận mang tính toàn cầu để chia sẻ các giá trị Việt Nam với thế giới.

Một vấn đề khác được Đại sứ Phạm Quang Vinh nhấn mạnh là thương hiệu quốc gia. Đây là yếu tố quan trọng để đưa Việt Nam ra thế giới và giúp thế giới nhận diện Việt Nam.

Theo ông, thương hiệu quốc gia có hai vế, một là thương hiệu quốc gia mang tính "văn hóa mềm", thể hiện tinh thần, hình ảnh Việt Nam là một đất nước, con người yêu cái đẹp, yêu chuộng hòa bình và có những giá trị riêng. Hai là những sản phẩm cụ thể "Made in Vietnam" mang giá trị Việt Nam.

Thế giới đã có nhiều ví dụ về việc sản phẩm cụ thể góp phần tạo dựng nhận diện quốc gia như: Đức gắn với BMW, Mercedes; Mỹ gắn với công nghệ, máy bay và nhiều sản phẩm khác; Hàn Quốc được nhận diện qua sâm Hàn Quốc, Samsung, Hyundai, K-pop…

Đại sứ Phạm Quang Vinh khẳng định: "Nhận diện quốc gia dựa vào những sản phẩm mềm có thể cụ thể hóa thành thương hiệu và những sản phẩm cụ thể."

Vịnh Hạ Long là một ví dụ. Từ một danh thắng, qua quá trình quốc tế vinh danh Vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới và ngày càng được biết đến rộng rãi, Vịnh Hạ Long đã trở thành một trong những hình ảnh gắn với Việt Nam trong nhận thức quốc tế. Phở cũng có thể được tiếp cận theo hướng tương tự.

Với bề dày văn hóa, lịch sử và những điều kiện Việt Nam đang có chúng ta cần xây dựng thành những thương hiệu quốc gia, để khi nhắc đến các giá trị ấy, thế giới có thể nhận diện Việt Nam.

Bên cạnh những giá trị đã có, cần xác định các sản phẩm, dịch vụ có triển vọng trở thành thương hiệu quốc gia trong tương lai, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, công nghệ và văn hóa. Không chỉ sản phẩm, tên doanh nghiệp, dịch vụ hay con người cũng có thể trở thành những thành tố của thương hiệu quốc gia. Việt Nam có nhiều danh nhân văn hóa, danh nhân được thế giới công nhận nhưng việc lan tỏa những giá trị đó ra thế giới cần được thực hiện mạnh mẽ hơn.

Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, muốn đưa hình ảnh Việt Nam có tiếng vang đến công chúng thế giới, chúng ta cần đi từ tầm nhìn chiến lược đến bộ nhận diện quốc gia, hệ giá trị quốc gia và cuối cùng đưa những giá trị đó đến với công chúng thông qua thương hiệu quốc gia.

Làm tốt trong nước, đưa tiếng vang ra thế giới

Về cách làm và kết nối quốc tế, Đại sứ Phạm Quang Vinh cho rằng cần nhìn nhận một thực tế: Trong một thế giới toàn cầu hóa, ranh giới giữa trong nước và quốc tế ngày càng đan xen. Vì vậy, trước hết phải làm tốt những giá trị ngay tại Việt Nam. Khi những giá trị đó được tạo dựng đủ sức thuyết phục trong nước, sức lan tỏa và tiếng vang sẽ tự nhiên vươn ra bên ngoài; người nước ngoài đến Việt Nam cũng có thể trực tiếp cảm nhận những giá trị ấy.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh dữ liệu hóa, số hóa và ứng dụng công nghệ trong truyền thông văn hóa. Theo Đại sứ, khi một người tìm kiếm thông tin về Vịnh Hạ Long, phở hay một thương hiệu Việt Nam, họ cần có thể tiếp cận ngay một hệ thống thông tin đầy đủ, hấp dẫn và nhất quán.

"Khi bất kỳ ai muốn tìm hiểu Vịnh Hạ Long phải thấy được câu chuyện về Việt Nam; khi tìm hiểu về phở phải thấy được câu chuyện về văn hóa Việt Nam; tìm hiểu doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng trở thành thương hiệu quốc gia cũng phải thấy được giá trị Việt Nam trong đó", Đại sứ Phạm Quang Vinh nói.

Để làm được điều này, các cơ quan đối ngoại, trong đó có ngoại giao văn hóa, cần chủ động tham gia xây dựng và lan tỏa những câu chuyện về Việt Nam trên các nền tảng thông tin phù hợp. Một hướng đi quan trọng khác là tăng cường sự hiện diện của Việt Nam tại các hoạt động quốc tế. Theo Đại sứ, "tham gia" cần được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là tham dự mà còn là chủ động đăng cai.

Việt Nam đã đăng cai thành công nhiều sự kiện chính trị và kinh tế tầm cỡ quốc tế, qua đó khẳng định vai trò, uy tín và nâng cao mạnh mẽ thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế, có thể kể đến: Hội nghị cấp cao APEC (năm 2006 và 2017); Việt Nam đăng cai SEA Games (năm 2003 và 2022)... Tuy nhiên, trong các lĩnh vực văn hóa, du lịch, thể thao, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc tham gia các cuộc thi, sự kiện quốc tế để tạo dấu ấn Việt Nam, đồng thời chủ động đăng cai các hoạt động quốc tế tại Việt Nam để giới thiệu những giá trị của đất nước.

Đại sứ Phạm Quang Vinh nhấn mạnh Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Chính phủ đặt ra một yêu cầu có ý nghĩa lâu dài là kiến tạo môi trường, hệ sinh thái cho phát triển sáng tạo, không chỉ của Việt Nam mà còn của các hoạt động sáng tạo quốc tế tại Việt Nam.

Những hoạt động kết hợp giữa văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo của Việt Nam với thế giới, được tổ chức ngay tại Việt Nam, nếu được đầu tư bài bản, có thể tạo tiếng vang lớn, đồng thời đưa Việt Nam trở thành một không gian giao lưu và sáng tạo quốc tế.

Từ góc độ tổ chức thực hiện, theo Đại sứ, ngoại giao văn hóa cũng đặt ra yêu cầu về cán bộ, cơ chế và bộ máy. Ngành văn hóa và ngành đối ngoại giữ vai trò quan trọng, tuy nhiên đây không chỉ là công việc của riêng hai ngành. Các cơ quan Trung ương, địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức và mỗi người Việt Nam đều có thể trở thành chủ thể tham gia lan tỏa giá trị Việt Nam. Vấn đề là cần tạo điều kiện và cơ chế phù hợp để các lực lượng này cùng tham gia, qua đó hình thành một sức mạnh tổng hợp thay vì hoạt động riêng lẻ.

Đặc biệt, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần được trang bị đầy đủ dữ liệu và các nền tảng thông tin phù hợp để giới thiệu về Việt Nam, đồng thời chủ động kết nối với trong nước theo nhu cầu và yêu cầu cụ thể.

Như vậy, để ngoại giao văn hóa thực sự trở thành một nguồn lực của sức mạnh quốc gia, Việt Nam không chỉ cần những thông điệp hay, mà cần những giá trị thực được tạo dựng trong nước, được số hóa và kể lại một cách nhất quán, được đưa ra thế giới thông qua sự hiện diện quốc tế và được lan tỏa bởi một hệ sinh thái với nhiều chủ thể cùng tham gia.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Gian hàng

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Gửi phản hồi