Linh hồn trong 'lời ăn, tiếng nói' người Việt

Thứ hai - 13/07/2026 03:05
"Tiếng Việt - Từ lời ăn tiếng nói người Việt" của Lê Minh Quốc phân tích những thay đổi của tiếng Việt và chiều sâu văn hóa ẩn trong những câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam.
người Việt ảnh 1

Học sinh Hà Nội trong tiết đọc sách. Ảnh: Trần Hiền.

Quyển Tiếng Việt - Từ lời ăn tiếng nói người Việt do Nhà xuất bản Trẻ phát hành với độ dày 432 trang, tập hợp hơn 60 bài khảo cứu về ý nghĩa từ ngữ trong ca dao, tục ngữ và phương ngữ tiếng Việt. Tác phẩm được chia làm ba phần chính, bàn luận về tính chính xác trong việc sử dụng của thành ngữ hiện nay, khảo sát phương ngữ miền Nam và giải mã các cách diễn đạt lắt léo trong tiếng Việt.

Lê Minh Quốc (sinh năm 1959 tại Đà Nẵng) là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, hiện giữ chức Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn TP.HCM. Ông là tác giả của hơn 50 đầu sách ở các thể loại thơ, tiểu thuyết và biên khảo.

Chia sẻ với Tri Thức - Znews, ông nhấn mạnh chiều sâu văn hóa trong từng câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ và việc sử dụng chúng trong "lời ăn tiếng nói" hàng ngày của người Việt.

Tiếng Việt liên tục sinh nghĩa

Lê Minh Quốc thực hiện Tiếng Việt - Từ lời ăn tiếng nói người Việt dựa trên quá trình tìm hiểu về tiếng Việt trong vòng 10 năm.

Tác giả chỉ ra "nghịch lý" là người Việt nói tiếng Việt hàng ngày nhưng chưa hẳn đã hiểu hết các tầng nghĩa hoặc lý giải được cách sử dụng từ ngữ trong từng ngữ cảnh cụ thể. Theo ông, tiếng Việt luôn có sự thay đổi theo thăng trầm lịch sử, dẫn đến việc nhiều từ ngữ hiện nay đã phai nghĩa hoặc chuyển sang nghĩa khác.

Nhà thơ khẳng định tiếng Việt, cũng như nhiều ngôn ngữ khác, không "giậm chân tại chỗ" mà liên tục "sinh nở" thêm các lớp nghĩa mới. Ông cho biết ngay cả những người am hiểu ngôn ngữ cũng có thể gặp khó khăn trước những cách nói "ngược" của dân gian. Điều này tạo nên một hành trình mà chính người bản ngữ cũng phải tiếp tục học để dùng đúng tiếng mẹ đẻ.

người Việt ảnh 2

Nhà thơ Lê Minh Quốc cho rằng ca dao, tục ngữ, thành ngữ là nơi chứa đựng vô vàn trí khôn của người Việt. Ảnh: Đức An.

Trong cuộc phỏng vấn về thông điệp của tác phẩm, Lê Minh Quốc khẳng định việc giữ gìn bản sắc dân tộc gắn liền với việc hiểu sâu sắc ngôn ngữ. Ông nhận định ngôn ngữ không đứng yên một chỗ mà luôn vận động và phát triển cùng đời sống. Do đó, việc học tiếng Việt là cần thiết để tránh tình trạng đọc hoặc nghe nhưng không còn rõ nghĩa của các câu chữ xưa.

"Chúng ta phải học tiếng Việt để hiểu tiếng Việt. Bởi có những từ theo năm tháng đã có hiện tượng phai nghĩa, chuyển nghĩa. Có những từ vừa du nhập gần đây, chúng ta cũng phải học vì tiếng Việt, cũng như mọi ngôn ngữ khác, không đứng một chỗ", tác giả chia sẻ.

Khi nghiên cứu, Lê Minh Quốc cho biết ông không chỉ phân tích ngữ nghĩa đơn thuần mà cố gắng tìm kiếm những "dấu vết văn hóa" liên quan. Ông dẫn chứng việc tìm hiểu về Khám Lớn Sài Gòn hay nhà tù Hỏa Lò để làm rõ nghĩa cho các từ ngữ liên quan đến câu "Cờ bạc là bác thằng bần, Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm". Theo tác giả, cách làm này giúp chứng minh từ ngữ là một thực thể đang tồn tại thay vì chỉ là những "xác chữ" cũ kỹ.

Tác giả cũng lấy ví dụ về câu "Giấy rách giữ lấy lề" để bàn về kỹ thuật làm giấy cổ truyền của người Việt. Sách dẫn giải về nhịp chày Yên Thái, làng Nghè và địa danh Cầu Giấy như những minh chứng cho sự gắn bó giữa nghề nghiệp và ngôn ngữ. Qua đó, người đọc nhận thấy từ ngữ luôn mang trong mình ký ức của một vùng đất hoặc một thời kỳ lịch sử.

Ông cho biết bản thân tham khảo khoảng 50 cuốn từ điển và sách biên khảo khác nhau, từ bản Từ điển Việt - Bồ - La (1651) đến các từ điển chuyên ngành hiện đại. Tác giả sử dụng một lượng ngữ liệu lớn từ Truyện Kiều và văn chương của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng để đối chiếu các lớp nghĩa. Ông cho biết mục đích của tác phẩm là mời gọi người đọc cùng tham gia thảo luận để chung tay gìn giữ vốn quý của dân tộc.

Tìm nghĩa nguyên bản của từ

Trong sách, nhà thơ Lê Minh Quốc thảo luận về việc nhiều câu hiện nay bị biến đổi khiến logic ngữ nghĩa không còn chuẩn xác. Ông cho biết bản thân đã truy tìm "nguyên bản" dựa trên cấu trúc ngôn ngữ và các bản khắc in cổ nhất.

Một ví dụ được ông nêu ra là câu "Bát bể đánh con sao đành" thường được hiểu theo hướng xót xa, sao nỡ dùng cái bát vỡ sắc bén để đánh con. Tuy nhiên, xét theo cấu trúc đối xứng của tục ngữ, câu này phải là "Bát bể đánh con sao lành". Theo đó, từ "bể" phải đi đôi với "lành" thì mới tạo ra sự hợp lý trong cách nói của ông bà ta xưa.

người Việt ảnh 3

Tiếng Việt - Từ lời ăn tiếng nói người Việt phân tích hiện tượng chuyển nghĩa, phai nghĩa, phương ngữ cũng như các cách sử dụng lắt léo của tiếng Việt. Ảnh: M.L.

Đối với câu tranh cãi "Tai vách mạch rừng" hay "mạch dừng", tác giả dẫn giải quy luật tiểu đối để xác định từ đúng. Sách giải thích "dừng" là nan tre làm cốt vách, nếu dùng "vách" và "dừng" thì hai vế sẽ bị trùng nghĩa. Ngược lại, việc đối giữa "vách" (nơi kín đáo) và "rừng" (nơi vắng vẻ) giúp câu tục ngữ đạt đến tầm khái quát về sự cẩn trọng lời nói ở mọi nơi.

Để củng cố lập luận này, nhà thơ Lê Minh Quốc còn tìm về nghĩa cổ của từ "mạch" là "chỉ chọc, tỏ vẻ", hiện vẫn còn lưu dấu vết trong từ "tọc mạch". Điều này giải thích tại sao rừng cũng có "mạch", tức là có sự nghe ngóng, rình mò của người khác. Ông cũng dẫn chứng bản Truyện Kiều khắc in năm 1866 để xác định đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng từ "rừng" thay vì "dừng".

Cuối cùng, nhà thơ Lê Minh Quốc nhấn mạnh: “Toàn bộ trí khôn, sự thông minh, sự khôn ngoan lịch lãm của người Việt đều kết tinh ở trong ca dao tục ngữ. Ông bà mình đã chọn ca dao tục ngữ để truyền lại cái vốn quý đó từ đời này qua đời nọ”.

Do đó, ông khẳng định dù có nhiều cách hiểu khác nhau tùy vùng miền, việc tìm về nguồn gốc giúp người dùng hiểu rõ nếp sinh hoạt và văn hóa xưa. Hiểu đúng tiếng Việt chính là cách để mỗi cá nhân giữ lấy cái gốc và tài sản quý giá của dân tộc.

 

Nguồn tin: znews.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

 
BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Gian hàng

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Gửi phản hồi