Từ Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó đặt văn hóa gắn liền với dòng chảy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg về chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Từ định hướng này, công cuộc số hóa tại các bảo tàng không chỉ dừng ở việc lưu trữ di sản mà đang biến nguồn tài nguyên văn hóa thành động lực phát triển kinh tế, thu hút mạnh mẽ công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
.jpg)
Nhiều đơn vị đã chủ động phá vỡ bức tường vô hình, biến không gian bảo tàng thành nơi trải nghiệm đa giác quan. Tiên phong trong cấp “hộ chiếu số” cho di sản phải kể đến Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Thời gian qua, Bảo tàng đã triển khai nhiều giải pháp như xây dựng Không gian triển lãm mỹ thuật trực tuyến (VAES), tour tham quan 3D, ứng dụng thuyết minh đa phương tiện iMuseum VFA với 9 ngôn ngữ, hệ thống bán vé điện tử và cơ sở dữ liệu số về hiện vật. Những ứng dụng này đã góp phần mở rộng khả năng tiếp cận di sản mỹ thuật, giúp công chúng trong nước và quốc tế có thể khám phá các giá trị nghệ thuật Việt Nam bằng nhiều hình thức thuận tiện và sinh động.
Chung nhịp bước, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng là đơn vị đi đầu trong ứng dụng công nghệ 3D và chuyển đổi số để trưng bày và kết nối với công chúng. Ngoài số hóa hiện vật, Bảo tàng ứng dụng công nghệ thông tin giúp khách tham quan dễ dàng tra cứu, quan sát hiện vật chi tiết trên nền tảng số, kết hợp màn hình cảm ứng, mã QR và không gian tương tác trực quan với công chúng.
Mới đây, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phát triển Bộ Kit Di sản (Heritage Kit), mở rộng không gian trải nghiệm qua phương thức kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ thuật in 3D và các trò chơi tương tác để du khách khám phá di sản qua trải nghiệm sáng tạo.
Theo Giám đốc Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Tuyết, trong bảo tàng, hiện vật được xem là trung tâm, là hồn cốt và tự thân nó đã mang câu chuyện. Tuy vậy, bối cảnh thời đại mới đòi hỏi cách tiếp cận lịch sử mới và giàu cảm xúc. Khi công chúng xem hiện vật, lắng nghe câu chuyện và trải nghiệm hiện vật qua định dạng 3D, họ không chỉ được xem, được hiểu mà còn được trực tiếp “chạm” vào một phần của quá khứ, cảm nhận trọn vẹn sự gần gũi và chân thực. Đó cũng là hướng đi cần thiết để kể câu chuyện về di sản, về truyền thống.
Mỗi hiện vật đều có câu chuyện để kể. Những hiện vật ấy có thể trông bình dị khi nhìn thoáng qua, nhưng khi nhìn kỹ, ta sẽ nhận ra chúng chứa đựng tiếng nói của những con người đã sống qua gian khổ, hy sinh và hy vọng. Chia sẻ như vậy, ông Ondris Pui, chuyên gia về công nghệ di sản văn hóa, Đại học RMIT Việt Nam, người đã đồng hành với nhiều dự án số hóa di sản ở Việt Nam những năm qua, cho rằng điều ý nghĩa giờ đây là chúng ta biết kết nối những câu chuyện ấy đến với những khán giả đương đại theo cách sống động, gần gũi và bền vững.
Ông Ondris Pui phân tích, công nghệ số mở ra nhiều khả năng mới trong việc bảo tồn di sản văn hóa. Bằng việc tạo ra phiên bản 3D của các hiện vật, chúng ta không chỉ bảo vệ chúng cho tương lai mà còn mang đến cho mọi người những cách thức mới để trải nghiệm. Khán giả giờ đây có thể quan sát chi tiết, tương tác với hiện vật, và cảm thấy gần gũi hơn với lịch sử, ngay cả khi ở rất xa.
“Tôi tin rằng điều này đưa chúng ta đến gần hơn với một lịch sử mà ai cũng có thể chạm vào và mang theo bên mình”, ông Ondris Pui nói.
.jpg)
Thời gian qua, hàng loạt bảo tàng, di tích và địa phương trên cả nước đã đẩy mạnh số hóa hiện vật, di sản song cũng gặp phải không ít thách thức. Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Nguyễn Anh Minh chỉ ra khó khăn đầu tiên nằm ở hạ tầng kỹ thuật. Nhiều thiết bị công nghệ chưa đồng bộ, trong khi các công nghệ hiện đại như 3D, trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo… đòi hỏi nguồn đầu tư lớn. Bên cạnh đó là những rào cản về nhân sự và cơ chế tài chính khiến việc duy trì không gian trải nghiệm, tương tác thiếu sự liền mạch… Chưa kể, tính xác thực, bảo vệ bản sắc trong không gian số, xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ, liên thông… cũng là vấn đề cần đặt ra.
Từ kinh nghiệm làm việc thực tế, theo ông Ondris Pui, điều quan trọng là tìm ra những cách tiếp cận công nghệ đơn giản và bền vững, để việc bảo tồn, phát huy di sản không trở nên quá tải hay xa vời. Những công cụ đó có thể đơn giản là chiếc điện thoại với những thao tác cơ bản để triển khai số hóa hiện vật, những phần mềm miễn phí, những phương thức kể chuyện tương tác hỗ trợ cho nội dung chính là câu chuyện hiện vật… nhằm giảm thiểu chi phí triển khai, đặc biệt hỗ trợ cho những đơn vị còn hạn chế về ngân sách, nhân lực… Nhờ vậy, di sản trở lại với đúng bản chất là một tài sản chung của cộng đồng.
“Di sản chỉ có thể trở thành một phần gần gũi trong đời sống cộng đồng khi ai cũng có cơ hội tiếp cận, khám phá và kết nối với những giá trị mà nó mang lại. Để thông qua công nghệ, trải nghiệm sáng tạo, chúng ta biết rằng lịch sử không phải là điều xa cách, mà là một phần sống động, để chúng ta học hỏi, trân trọng và tiếp bước”, ông Ondris Pui nhận định.
Nguồn tin: daibieunhandan.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn