Sau hơn 5 năm thực hiện Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 69/2020/QH14) đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là trong cải cách điều kiện đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước.
Để khắc phục những hạn chế này, dự án luật được xây dựng trên cơ sở không làm thay đổi phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng mà chỉ nhằm hoàn thiện 3 nhóm chính sách lớn. Thứ nhất là cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh và thúc đẩy chuyển đổi số. Thứ hai là xử lý một số vấn đề cấp thiết, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng hai con số. Cuối cùng là đẩy mạnh phân quyền đối với chính quyền địa phương và giải quyết các vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Cụ thể, dự án luật đề xuất bãi bỏ 5 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 6 thủ tục khác; chuyển từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường quản lý thông qua cơ sở dữ liệu điện tử và cơ chế giám sát. Tập trung hoàn thiện các quy định nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đưa đi làm việc ở nước ngoài. Giao thêm 4 nhiệm vụ cho UBND cấp tỉnh và bổ sung 1 nhiệm vụ cho UBND cấp xã trong công tác quản lý, chuẩn bị nguồn lao động…
Thảo luận tại tổ về dự án Luật, các ý kiến đều tán thành sửa đổi luật bởi việc này không chỉ nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường lao động ngoài nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển đất nước sau khi người lao động trở về nước.
Nhìn nhận ở khía cạnh cụ thể, có ý kiến cho rằng, cần tiếp cận hoạt động đưa người lao động ra nước ngoài theo hướng có định hướng và kiểm soát chứ không chỉ đơn thuần nhằm giải quyết việc làm, tìm kiếm thu nhập. Bên cạnh đó, cần xác định rõ những thị trường, ngành nghề phù hợp để người lao động được làm việc trong điều kiện tốt, có thu nhập cao, tích luỹ được kiến thức, kỹ năng và nguồn lực tài chính.
Rộng hơn, có đại biểu đề nghị cần chuyển từ tư duy quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sang quản trị toàn bộ “vòng đời” của người lao động. Để thực hiện được điều này đòi hỏi phải có chuỗi chính sách đồng bộ, bắt đầu từ cung cấp thông tin, đào tạo nghề, ngoại ngữ, kỹ năng, cơ chế bảo vệ, hỗ trợ pháp lý trong thời gian làm việc ở nước ngoài và công nhận kỹ năng nghề, kết nối việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp khi lao động về nước.
Trong bối cảnh hiện nay, việc sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là cần thiết nhằm tạo bước chuyển mới trong phát triển thị trường lao động ngoài nước. Bởi vậy, việc sửa luật không nên chỉ dừng ở xử lý những vấn đề kỹ thuật quản lý. Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần được coi là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và phải hài hòa với nhu cầu phát triển kinh tế, mục tiêu tăng trưởng. Hơn nữa, khi cạnh tranh không còn chủ yếu dựa trên lao động giá rẻ, chính sách cần hướng đến phát triển lao động có kỹ năng, trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước.
Nguồn tin: daibieunhandan.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn