Từ “nâng cấp” đến “nâng chất” quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện
Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia và New Zealand hội tụ nhiều tầng ý nghĩa. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới hai nước trên cương vị mới, diễn ra trong bối cảnh cả quan hệ Việt Nam - Australia và Việt Nam - New Zealand đều đã được nâng lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để những khuôn khổ đã có thực sự tạo ra chất lượng mới, hiệu quả mới và những lợi ích mới cho mỗi quốc gia, cho người dân và doanh nghiệp?
Theo tôi, đây chính là ý nghĩa sâu xa của thông điệp “đồng hành, đồng hợp tác, đồng kiến tạo” được nhấn mạnh sau chuyến thăm. Nếu “đồng hành” thể hiện sự tin cậy và chia sẻ tầm nhìn, “đồng hợp tác” phản ánh quyết tâm cùng triển khai những chương trình cụ thể, thì “đồng kiến tạo” đã đưa quan hệ song phương lên một tầng cao hơn: cùng tham gia thiết kế tương lai, cùng tạo ra những năng lực mới, cùng giải quyết các thách thức mới và cùng tạo thêm giá trị cho phát triển. Đó là sự chuyển dịch từ quan hệ tốt đẹp về chính trị sang quan hệ có khả năng sản sinh ra động lực phát triển.
Đáng chú ý, chuyến thăm tạo được cả “độ sâu” về chính trị và “độ mở” về hợp tác, phản ánh khá đầy đủ yêu cầu của quan hệ đối ngoại trong giai đoạn hiện nay. “Độ sâu” trước hết là sự tin cậy chính trị, sự hiểu biết lẫn nhau, sự ổn định và bền vững của quan hệ, khả năng chia sẻ những vấn đề có ý nghĩa chiến lược. “Độ mở” là khả năng không ngừng mở rộng không gian hợp tác, mở thêm lĩnh vực, mở thêm chủ thể tham gia và mở thêm những cơ hội mới cho người dân, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, địa phương và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Australia và New Zealand đều coi trọng vai trò, vị thế ngày càng cao của Việt Nam trong khu vực. Ngược lại, với Việt Nam, đây là hai đối tác quan trọng ở Nam Thái Bình Dương, có nhiều thế mạnh bổ trợ trực tiếp cho những nhu cầu phát triển mới của đất nước. Khi quan hệ chính trị đã đạt độ tin cậy cao, điều cần làm tiếp theo là kết nối những thế mạnh của hai nước với những ưu tiên chiến lược của Việt Nam.
Bởi vậy, chuyến thăm cho thấy một bước chuyển từ ngoại giao khuôn khổ sang ngoại giao thực chất. Với Australia, hai bên lần đầu tiên ra Tuyên bố chung về tăng cường kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều này cho thấy khoa học - công nghệ đang được đặt vào vị trí của một trụ cột mới, một động lực mới của quan hệ song phương. Với New Zealand, các thỏa thuận về giáo dục, nông nghiệp, môi trường, tiếp cận thị trường và hợp tác gìn giữ hòa bình tiếp tục mở rộng không gian hợp tác theo hướng gắn chặt hơn giữa năng lực của đối tác với nhu cầu phát triển của Việt Nam.
Biến “độ sâu” chính trị thành nguồn lực phát triển mới
Nếu phải chọn một dấu ấn nổi bật nhất của chuyến thăm, tôi cho rằng, đó là việc gắn kết rất rõ công tác đối ngoại với yêu cầu đổi mới mô hình phát triển của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó đột phá thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là những động lực then chốt. Từ cách đặt vấn đề đó, quan hệ với Australia và New Zealand được nhìn không chỉ qua lăng kính hữu nghị hay thương mại truyền thống, mà qua khả năng đóng góp vào việc hình thành những động lực tăng trưởng mới của Việt Nam.
Tại Australia, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị xây dựng và triển khai chiến lược kết nối khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với tầm nhìn dài hạn cho thấy một tư duy hợp tác rất mới. Chúng ta không chỉ mong muốn tiếp nhận công nghệ, mà hướng tới cùng nghiên cứu, cùng phát triển, cùng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và cùng tham gia các chuỗi giá trị tri thức. Sự thay đổi ấy đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khoa học - công nghệ đang làm thay đổi nhanh chóng cấu trúc của sức mạnh quốc gia. Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ số, năng lượng tái tạo, khoáng sản chiến lược, nông nghiệp công nghệ cao hay công nghệ sinh học… là những lĩnh vực quyết định năng suất, khả năng tự chủ, sức cạnh tranh và vị trí của mỗi quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Vì thế, việc đưa những lĩnh vực này vào trung tâm của hợp tác với Australia cho thấy đối ngoại đang ngày càng đi thẳng vào những bài toán cốt lõi của phát triển.
Với New Zealand, điểm nhấn nổi bật là sự kết nối giữa giáo dục, nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị hai bên cùng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế tri thức; đồng thời tăng cường liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Điều chúng ta cần là một hệ sinh thái trong đó tri thức được kết nối với công nghệ, công nghệ đi vào sản phẩm, sản phẩm đi vào thị trường và cuối cùng tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế và xã hội.
Ở đây, vai trò của doanh nghiệp cũng được đặt đúng vị trí. Nhà nước mở đường, xây dựng lòng tin, thiết lập khuôn khổ và tháo gỡ các rào cản, nhưng doanh nghiệp mới là lực lượng biến tiềm năng thành dự án, biến thỏa thuận thành dòng đầu tư, biến công nghệ thành sản phẩm và biến quan hệ chính trị tốt đẹp thành lợi ích kinh tế cụ thể. Vì thế, tinh thần cùng đầu tư, cùng nghiên cứu, cùng xây dựng thương hiệu, cùng phát triển thị trường cần trở thành một nội dung quan trọng trong giai đoạn tiếp theo của quan hệ Việt Nam với Australia và New Zealand.
Một nguồn lực khác không thể bỏ qua là cộng đồng người Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và sinh viên đang sinh sống, học tập và làm việc tại hai nước. Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước dành thời gian gặp gỡ, lắng nghe và trao đổi với cộng đồng cho thấy một cách nhìn ngày càng đầy đủ hơn: người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là cầu nối hữu nghị, mà còn là nguồn lực tri thức, nguồn lực đổi mới sáng tạo và nguồn lực kết nối thị trường rất quan trọng. Trong một thế giới mà tri thức và mạng lưới có thể tạo ra giá trị lớn hơn nhiều tài nguyên hữu hình, khả năng kết nối trí tuệ Việt Nam trên toàn cầu chính là một lợi thế chiến lược cần được phát huy mạnh mẽ hơn.
Sau mỗi chuyến thăm cấp cao, điều cần thiết là phải nhanh chóng xây dựng cơ chế theo dõi, phân công rõ đầu mối, xác định tiến độ, trách nhiệm và sản phẩm đầu ra đối với từng thỏa thuận. Thước đo quan trọng nhất của một chuyến thăm đối ngoại trong giai đoạn mới chính là khả năng biến “độ sâu” chính trị thành “độ sâu” của hợp tác phát triển; biến “độ mở” của các khuôn khổ thành “độ mở” của cơ hội cho người dân và doanh nghiệp. Khi một thỏa thuận về giáo dục tạo ra thêm những chương trình đào tạo chất lượng cao; khi một tuyên bố về khoa học - công nghệ hình thành được các phòng thí nghiệm chung, dự án nghiên cứu chung hay doanh nghiệp công nghệ mới; khi hợp tác nông nghiệp giúp nâng chuẩn chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở thêm thị trường; khi cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài có thêm cơ chế đóng góp hiệu quả cho đất nước… thì ngoại giao mới thực sự trở thành một động lực của phát triển.
Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vì thế không chỉ để lại những dấu mốc mới trong quan hệ song phương. Điều đáng quý hơn là chuyến thăm cho thấy hình hài ngày càng rõ của một nền ngoại giao phát triển: lấy độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc làm nền tảng; lấy tin cậy chính trị làm điều kiện; lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và kết nối con người làm những động lực mới; lấy người dân và doanh nghiệp làm chủ thể thụ hưởng; lấy kết quả thực chất làm thước đo. Trong một thế giới nhiều bất định, chính những quan hệ tin cậy, những mạng lưới hợp tác sâu rộng và những năng lực cùng kiến tạo như vậy sẽ giúp Việt Nam mở rộng không gian phát triển, gia tăng nội lực và bước đi tự tin hơn trên con đường hiện thực hóa khát vọng trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Nguồn tin: daibieunhandan.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn