Từ tích lũy về lượng sang nhảy vọt về chất
Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tỷ trọng đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP trong giai đoạn 2018 - 2025 chỉ khoảng 4 - 5%. Con số này phản ánh khoảng cách so với mục tiêu đóng góp tối thiểu 7% GDP vào năm 2030 như Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đề ra. Các chuyên gia cho rằng, chênh lệch giữa tài nguyên văn hóa và giá trị gia tăng không chỉ nằm ở cơ sở hạ tầng hay nguồn vốn, mà cốt lõi ở chất lượng nguồn nhân lực.
Phát triển công nghiệp văn hóa đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng theo kết cấu “kiềng ba chân”: nhân lực quản lý (hoạch định chính sách, xây dựng thể chế); nhân lực sáng tạo (nghệ sĩ, tác giả); nhân lực sản xuất, kinh doanh (tối ưu hóa giá trị kinh tế). Thế nhưng bức tranh nhân lực Việt Nam đang bộc lộ sự mất cân đối đáng kể. Thực tế cho thấy công tác đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp văn hóa đang “lệch pha” giữa hệ thống đào tạo và nhu cầu vận hành của thị trường sáng tạo. Việc thiếu môi trường đào tạo liên ngành - nơi sáng tạo nghệ thuật, công nghệ và tư duy kinh tế gắn bó chặt chẽ với nhau có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng nhân lực ngành những năm tới.
Bước vào kỷ nguyên số, phương thức sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm văn hóa có sự thay đổi lớn. Những kỹ năng số nâng cao như thiết kế trải nghiệm người dùng, mô hình hóa 3D, trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu và an ninh mạng trở thành công cụ bắt buộc để gia tăng giá trị sáng tạo. Các nhà sáng tạo thời nay không chỉ vẽ, viết trên giấy mà còn có thể thiết kế một không gian thực tế ảo để khán giả toàn cầu bước vào tương tác, thậm chí mua bán dưới dạng tài sản số hóa. Hơn thế, yêu cầu đối với nhân lực trẻ còn mở rộng sang chuẩn mực đạo đức số - lá chắn giúp họ điều chỉnh hành vi và bảo tồn bản sắc dân tộc trên không gian mạng... Đây đều là yêu cầu khắt khe, buộc hệ thống đào tạo nhân lực ngành phải thay đổi.
Theo PGS. TS. Nguyễn Văn Hiệu, Hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, trong tầm nhìn dài hạn, chính sách đào tạo nhân lực văn hóa cần chuyển từ tư duy cung cấp sang phát triển năng lực cạnh tranh. Trong hướng thay đổi mang tính nền tảng này, đào tạo cần vượt phạm vi truyền thống, mở rộng tính liên ngành.
“Nhân lực văn hóa không còn được hiểu theo nghĩa hẹp là đội ngũ văn nghệ sĩ hoạt động trong các thiết chế văn hóa, nghệ thuật, mà được mở rộng sang người lao động các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nội dung số, thiết kế, truyền thông, quản trị di sản và cả những không gian sáng tạo mới. Vì vậy, vấn đề đặt ra không phải là tăng số lượng, mà là tái cấu trúc toàn bộ hệ thống đào tạo và sử dụng nhân lực theo hướng phù hợp với hệ sinh thái công nghiệp văn hóa”, PGS. TS. Nguyễn Văn Hiệu chỉ ra.
Bệ phóng cho lực lượng sáng tạo
Những năm gần đây, hệ thống chính sách của Việt Nam đang trải qua cuộc cách mạng thực sự nhằm mở đường cho công nghiệp văn hóa cất cánh. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Công nghiệp văn hóa nhằm xác định đúng các cơ chế, chính sách mang tính then chốt để tạo khung khổ pháp lý thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa (dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2026). Dự thảo Luật được xây dựng trên quan điểm xác định trúng, đúng các cơ chế, chính sách, hướng tới phát triển đồng bộ dựa trên 6 trụ cột cốt lõi: hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; nhân lực; hạ tầng; thị trường; tài chính và hỗ trợ ưu đãi, đầu tư.
Đối với công tác phát triển nhân lực ngành, dự thảo Luật đưa ra nhiều chính sách mới về tính liên thông trong đào tạo, cơ chế đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, đầu tư cho tài năng. Theo đó, xây dựng khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực… Các nhóm chính sách khác cũng nhằm kiến tạo phát triển, để di sản, văn hóa được chuyển hóa thành dòng tiền như quy định Nhà nước thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với khoản vay được bảo đảm bằng tài sản trí tuệ; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với các mô hình kinh doanh mới và hoạt động công nghiệp văn hóa…
PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, tài nguyên văn hóa chỉ thực sự trở thành lợi thế phát triển sau quá trình chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm và các hình thức biểu đạt có khả năng đi vào đời sống xã hội. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đều đặt ra yêu cầu phát triển môi trường sáng tạo, phát huy nguồn lực văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đây chính là giai đoạn bước ngoặt, hình thành nền tảng phát triển ổn định cho lực lượng sáng tạo.
Trước hết cần nhanh chóng hoàn thiện thể chế theo hướng tạo lập môi trường thuận lợi cho sáng tạo được hình thành, thử nghiệm và phát triển, thông qua các cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo, mở rộng các hình thức hợp tác công - tư... Cùng với đó, đầu tư bài bản cho hạ tầng sáng tạo xã hội, bao gồm hệ thống không gian sáng tạo, các chương trình đào tạo, ươm tạo và kết nối thị trường, từng bước hình thành các chuỗi giá trị sáng tạo có khả năng cạnh tranh và lan tỏa.
“Quan trọng hơn cả là tạo dựng được một tinh thần đồng hành thực chất giữa Nhà nước, cộng đồng sáng tạo và doanh nghiệp. Khi sáng tạo được nhìn nhận đúng vị thế, được bảo đảm bằng những cơ chế phù hợp và được đặt vào các bài toán phát triển cụ thể của địa phương, lực lượng sáng tạo sẽ trở thành động lực nội sinh quan trọng cho phát triển văn hóa và kinh tế sáng tạo của đất nước trong giai đoạn mới”, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương nhận định.
Nguồn tin: daibieunhandan.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn