
Hiện nay, Đảng ta đặt công tác đối ngoại vào vị trí “trọng yếu, thường xuyên,” bên cạnh quốc phòng, an ninh. Đây là bước đổi mới trong tư duy khi đối ngoại được xác định phải đi trước một bước, góp phần giữ nước từ sớm, từ xa, đồng thời mở thêm không gian, nguồn lực và cơ hội phát triển. Nhìn vào thực tiễn, yêu cầu ấy đang từng bước được cụ thể hóa.
Không phải ngẫu nhiên Nghị quyết số 06-NQ/TW xác định đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên.”
Trong thế giới đang biến động nhanh và đầy bất ổn, một bất đồng hay thay đổi trong quan hệ giữa các nước lớn đều có thể tác động trực tiếp đến môi trường phát triển của Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã nhấn mạnh: “đối nội và đối ngoại luôn song hành, bổ trợ cho nhau, đối ngoại là sự vươn xa của đối nội.”
Đất nước muốn phát triển thì không thể chỉ lo tốt việc trong nhà, mà còn phải biết mở cửa đúng hướng, chọn bạn mà hợp tác, biến quan hệ thành lợi ích và lòng tin phải trở thành những thị trường, công nghệ, tri thức cụ thể.
Nhìn vào quan hệ Việt Nam-Malaysia, điều đó hiện lên rõ. Nửa đầu năm 2026, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 10,8 tỷ USD, tăng 40% so với cùng kỳ năm 2025.
Hai nước đã có khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện từ tháng 11/2024, nhưng mục tiêu hiện nay không chỉ là giữ quan hệ tốt đẹp mà còn là làm cho quan hệ ấy đi vào chiều sâu hơn nữa, mở cửa và tạo thuận lợi hơn nữa cho hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư theo hướng cân bằng; thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế số, kinh tế xanh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Mục tiêu đưa thương mại song phương lên 20 tỷ USD cũng đặt ra yêu cầu đó.
Còn với Hoa Kỳ, hướng đi này cũng rất cụ thể. Việt Nam xác định Hoa Kỳ là một trong những đối tác có tầm quan trọng chiến lược hàng đầu; đồng thời đề nghị sớm kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại đối ứng, hạn chế các biện pháp phòng vệ thương mại cực đoan có thể ảnh hưởng tới tổng thể quan hệ hai nước.
Hai bên cần thúc đẩy hợp tác cùng có lợi về khoa học công nghệ và việc đạt được đột phá trong phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là ưu tiên của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược về tăng trưởng.
Từ quan hệ giữa các quốc gia, yêu cầu ấy cũng đặt ra với dòng vốn và doanh nghiệp nước ngoài. Không chỉ thu hút vốn, Việt Nam còn chú trọng phải lựa chọn được những dự án có công nghệ tốt, gắn với nhu cầu phát triển trong nước.
Việc LAPP của Đức coi Việt Nam là thị trường trọng điểm, trong bối cảnh nhu cầu tăng lên từ trung tâm dữ liệu AI, tự động hóa, năng lượng tái tạo và hạ tầng thông minh, là một ví dụ. Đó chính là hướng mà Nghị quyết 06-NQ/TW đặt ra, chuyển từ “thu hút” sang “chọn lọc,” ưu tiên công nghệ cao và dự án liên kết sâu với kinh tế trong nước.
Nguồn lực cho phát triển không chỉ nằm ở những dự án đầu tư hay các thị trường bên ngoài. Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài cũng là một nguồn sức mạnh của quốc gia. Từ mức 2,3 tỷ USD kiều hối năm 2004, con số này đã lên 17,7 tỷ USD năm 2025, tổng kiều hối từ năm 1993 đến nay, dù chưa đầy đủ, đã hơn 250 tỷ USD kiều hối, tương đương FDI giải ngân cùng kỳ. Những con số ấy cho thấy kiều bào không chỉ là đối tượng cần vận động, chăm lo, mà thực sự là nguồn lực của đất nước.
Nghị quyết số 23-NQ/TW đưa tư duy ấy tiến thêm một bước, từ “vận động, tập hợp, chăm lo” sang đồng hành, kiến tạo cơ chế.

Chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, trí thức, người trẻ ở nước ngoài có thể đóng góp không chỉ bằng việc trở về nước, mà cả từ xa, thông qua mạng lưới kết nối tri thức, công nghệ, đầu tư và thị trường. Khi mỗi cơ quan đại diện trở thành một trung tâm kết nối nguồn lực Việt Nam tại địa bàn, đối ngoại sẽ thực sự gần hơn với công việc phát triển đất nước.
Muốn những nguồn lực ấy đi vào cuộc sống, đối ngoại cũng phải đến với địa phương, doanh nghiệp và người dân.
Thái Lan và Việt Nam vừa kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao. Ở Cần Thơ, hợp tác được cụ thể hóa bằng kết nối doanh nghiệp, đầu tư, thương mại, du lịch, giáo dục. Năm 2025, vốn đầu tư của Thái Lan tại Cần Thơ đạt khoảng 119,25 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2026, Cần Thơ xuất khẩu sang Thái Lan khoảng 13,9 triệu USD và nhập khẩu 3,8 triệu USD. Những con số cho thấy, đối ngoại chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với sản phẩm, thị trường và nhu cầu phát triển.
Từ địa phương nhìn rộng ra khu vực, ASEAN chính là một không gian quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác. Việt Nam đã là thành viên của tổ chức này 31 năm qua và đang cùng các nước hướng tới một cộng đồng đoàn kết, tự cường, giữ vai trò trung tâm. Trong khu vực khoảng 800 triệu dân, củng cố ASEAN cũng là cách để Việt Nam mở rộng không gian chiến lược và tạo thêm dư địa phát triển.
Nhưng mở rộng hợp tác thì đối ngoại cũng phải đi cùng quốc phòng, an ninh để tạo nên thế vững vàng.
Hợp tác Việt Nam-Malaysia về quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển; hợp tác với Campuchia chống tội phạm xuyên quốc gia; hay trao đổi về Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế cho thấy “vành đai an ninh-phát triển” được tạo nên từ lòng tin, cơ chế phối hợp và khả năng xử lý bất đồng bằng biện pháp hòa bình.
Đường biên giới Việt Nam-Campuchia dài 258,939km cũng là yêu cầu ấy được thể hiện mỗi ngày. Một đường biên giới hòa bình không chỉ được giữ bằng lực lượng bảo vệ chủ quyền, mà còn bằng quan hệ láng giềng, giao lưu nhân dân, hợp tác kinh tế và đồng thuận ở cơ sở. Giữ vững chủ quyền và mở rộng hợp tác nếu làm tốt, chúng sẽ bổ trợ cho nhau.
Có thể thấy đối ngoại đang ngày càng gắn với phát triển đất nước. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Việt Nam tiếp tục kiên định đường lối “độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.”
Giữ được thế đứng vững vàng, mở được thế hợp tác, xây được thực lực để tiếng nói quốc gia có trọng lượng, có sức nặng. Đó là cách đường lối đối ngoại Đại hội XIV đi vào thực tiễn, vừa giữ nước từ sớm, từ xa, vừa mở đường tới tương lai phát triển nhanh, bền vững, tự chủ./.
Nguồn tin: vietnamplus.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn