Tại sao những cơn sốt đầu cơ luôn lặp lại? Tại sao con người, sau hàng trăm năm lịch sử, vẫn lao vào những bong bóng tài sản với cùng một sự phấn khích và rốt cuộc đều kết thúc trong hoảng loạn?
Từ cơn sốt hoa tulip ở Hà Lan thế kỷ 17 đến Đại suy thoái 1929, khủng hoảng tài chính châu Á 1997, sự sụp đổ của Lehman Brothers năm 2008 và những biến động dữ dội của thị trường toàn cầu hiện nay, Hoảng loạn, Hỗn loạn và Cuồng loạn được xem là tác phẩm kinh điển nhất thâu tóm gần 400 năm lịch sử tài chính thế giới với 10 cuộc khủng hoảng lớn. Với lối viết cuốn hút như một thiên sử về lòng tham, nỗi sợ hãi và những sai lầm lặp đi lặp lại của con người, Charles P. Kindleberger và các cộng sự đã chỉ ra những quy luật bất biến đằng sau mọi cơn cuồng loạn đầu cơ.
Trong ấn bản thứ tám của cuốn sách kinh điển về lịch sử tài chính của các bong bóng và khủng hoảng, Robert McCauley cùng với Robert Aliber tiếp tục phát triển dựa trên công trình nổi tiếng của Charles Kindleberger. McCauley sử dụng kinh nghiệm làm việc tại ngân hàng trung ương để giới thiệu các chương mới về tiền điện tử và vai trò của Hoa Kỳ như là người cho vay cuối cùng trên toàn cầu trong thế kỷ 21. Ông cũng cập nhật nội dung về bong bóng bất động sản gần đây ở Trung Quốc, cũng như cung cấp những góc nhìn mới về bong bóng nhà ở Hoa Kỳ giai đoạn 2003-2006 và bong bóng Nhật Bản cuối những năm 1980. Ông cũng dành sự chú ý mới cho tâm lý xã hội dẫn đến việc mọi người chấp nhận rủi ro đầu tư vào các mô hình Ponzi và bong bóng giá tài sản. Lần đầu tiên trong ấn bản được sửa đổi và cập nhật này, các hình minh họa làm nổi bật những điểm chính để đảm bảo rằng thế hệ các nhà nghiên cứu, sinh viên, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách tài chính và kinh tế ngày nay - cũng như các nhà đầu tư muốn tránh khủng hoảng - có thể tiếp cận được lịch sử toàn cảnh về khủng hoảng tài chính này.
Một cuốn sách kinh điển không chỉ giúp hiểu quá khứ, mà còn giúp nhận diện những cơn điên loạn đang hình thành ngay trước mắt chúng ta.
Đối tượng của cuốn sách:
- Nhà đầu tư, doanh nhân và nhà quản lý muốn hiểu quy luật hình thành các bong bóng tài sản, nhận diện rủi ro và đưa ra quyết định hiệu quả trong bối cảnh thị trường biến động.
- Sinh viên, giảng viên và người nghiên cứu kinh tế – tài chính muốn học hỏi, trau dồi tri thức từ một tác phẩm kinh điển giúp kết nối lịch sử khủng hoảng tài chính với các lý thuyết kinh tế và tiền tệ hiện đại.
- Chuyên gia tài chính, ngân hàng và hoạch định chính sách muốn khơi dậygóc nhìn sâu sắc về vai trò của ngân hàng trung ương, các định chế tài chính quốc tế và cơ chế ứng phó khủng hoảng toàn cầu.
- Bất cứ ai quan tâm đến kinh tế thế giới, bitcoin và những quy luật của thị trường tài chính muốn khám phá những bài học lịch sử đằng sau các cơn sốt đầu cơ, từ bong bóng hoa tulip đến Bitcoin và tiền mã hóa trong thế kỷ 21.
THÔNG TIN TÁC GIẢ
Robert Z. Aliber là Giáo sư danh dự về Kinh tế và Tài chính Quốc tế tại Trường Kinh doanh Booth thuộc Đại học Chicago, Hoa Kỳ. Ông từng là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài chính Quốc tế; thành viên nghiên cứu của Ủy ban Phát triển Kinh tế và Ủy ban Tiền tệ và Tín dụng; và cố vấn kinh tế cấp cao cho Cơ quan Phát triển Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Giáo sư Aliber đã tư vấn cho Hội đồng Thống đốc Hệ thống Dự trữ Liên bang và các cơ quan chính phủ khác của Hoa Kỳ, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, điều trần trước các ủy ban của Quốc hội, và thuyết trình rộng rãi ở Hoa Kỳ và nước ngoài.
Cố Giáo sư Charles P. Kindleberger là Giáo sư Kinh tế Ford tại MIT trong 33 năm và là tác giả của hơn 30 cuốn sách. Ông nổi tiếng nhất với tư cách là một nhà sử học tài chính, người được tạp chí Economist gọi là “bậc thầy của thể loại” về khủng hoảng tài chính. Ông đã thúc đẩy nghiên cứu về tài chính quốc tế và giúp xây dựng Kế hoạch Marshall, được Quốc hội phê chuẩn, cho công cuộc tái thiết châu Âu sau Thế chiến thứ Hai. Trong thời gian làm việc tại MIT, Kindleberger đã nhiều lần làm cố vấn cho chính phủ liên bang, thường là cho Bộ Tài chính và Cục Dự trữ Liên bang. Năm 1985, ông là chủ tịch của Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ.
Robert N. McCauley là một nhà kinh tế học có tầm nhìn rộng, đặc biệt chuyên về thị trường tài chính quốc tế và vai trò toàn cầu của đồng đô la. Sự nghiệp ngân hàng trung ương của ông kéo dài 38 năm tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), bao gồm ba năm làm người đứng đầu Văn phòng châu Á của BIS tại Đặc khu hành chính Hồng Kông. Năm 1999, ông đồng tác giả cuốn sách Dodging Bullets: Changing Corporate Capital Structures in the 1980s and 1990s, một ứng dụng của mô hình Minsky-Kindleberger vào cơn sốt đòn bẩy doanh nghiệp. Hiện ông là nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại Trung tâm Chính sách Phát triển Toàn cầu thuộc Đại học Boston và là thành viên liên kết của Khoa Lịch sử tại Đại học Oxford.
ĐÁNH GIÁ/ NHẬN XÉT CỦA BÁO CHÍ/CHUYÊN GIA
“… một bữa tiệc giải trí thịnh soạn với những giai thoại hài hước, những câu cách ngôn tao nhã và lối diễn đạt đầy duyên dáng, nhưng không kém phần nghiêm túc. Đối với Kindleberger, cách con người kiếm sống chưa bao giờ là chuyện có thể đem ra đùa, nhất là khi họ cố gắng làm giàu bằng cái giá mà người khác phải trả.” — Peter L. Bernstein, tác giả các cuốn Against the Gods và The Power of Gold
TRÍCH ĐOẠN
“Charles Ponzi là người phô trương, trong khi Bernie Madoff lại trái ngược hoàn toàn, ông là người kín tiếng và chỉ nhận tiền đầu tư từ một số ít bạn bè thân thiết và bạn của bạn bè thân thiết. Tuy nhiên, các cuộc điều tra sau đó cho thấy ông có hơn 4.500 ‘bạn thân’, và dựa vào ít nhất 4-5 ‘công ty trung gian’ để thu hút thêm dòng tiền mới. Cơ chế chi trả cho các công ty này khác nhau: một số dường như nhận khoảng 1% ngay từ đầu, và thêm 1% mỗi năm trong thời gian tiền vẫn được duy trì trong hệ thống của Madoff. Sau đó, các luật sư xử lý hậu quả cho biết một số công ty trung gian này đã đạt mức lợi suất lên tới 40-50% mỗi năm trên chính phần vốn mà họ đầu tư vào Madoff.”
“Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố bảng xếp hạng tham nhũng hằng năm; Phần Lan thường giữ vị trí số một về mức độ minh bạch, trong khi Iceland từng theo sát phía sau cho đến khi bong bóng giá cổ phiếu quy mô lớn của nước này sụp đổ năm 2008. (Các cuộc điều tra sau đó cho thấy hệ thống ngân hàng Iceland đã bị chính các chủ sở hữu ‘rút ruột’.) Trong nhiều năm, Bangladesh, Cộng hòa Dân chủ Congo và Nigeria được xem là những quốc gia có mức độ tham nhũng cao nhất. Hoa Kỳ từng đứng gần nhóm đầu trong bảng xếp hạng này, nhưng có thể đã tụt hạng do các vụ gian lận và hành vi lừa đảo quy mô lớn trong khu vực doanh nghiệp Mỹ, đặc biệt trong giai đoạn bong bóng chứng khoán thập niên 1990 và bong bóng bất động sản khoảng một thập niên sau đó.”
“Các vụ lừa đảo khác với cướp bóc thông thường ở chỗ chúng lợi dụng lòng tin để chiếm lợi. Nhà văn Daniel Defoe từng cho rằng kẻ gian lận trên thị trường chứng khoán còn tệ hơn bọn cướp đường gấp mười nghìn lần, vì hắn lừa chính những người quen biết, thậm chí là bạn bè, người thân, mà không phải đối mặt với rủi ro về thể chất.”
“Trong đống đổ nát của mọi cơn sốt đầu cơ sau khi chúng sụp đổ luôn có dấu vết của những người đã mua tài sản với mức giá mà chính họ biết là vô lý, chỉ vì tin rằng sẽ có một ‘kẻ ngốc hơn’ mua lại và giúp họ kiếm lời.”
“Điểm khác biệt lớn còn lại giữa bitcoin và một mô hình Ponzi là khi xét trên phương diện tổng thể hay xã hội, bitcoin là một trò chơi tổng âm. Chừng nào các nguồn lực thực còn bị tiêu hao để vận hành bitcoin, nó sẽ gây ra những tốn kém theo cách mà hai hay ba người của Bernie Madoff không mắc phải. (Điều này cũng đúng với ether cho tới tháng 9 năm 2022, khi đồng tiền này chuyển từ cơ chế đào tiêu tốn năng lượng sang một phương thức thân thiện môi trường hơn để duy trì tính trung thực của những người tham gia.) Từ góc độ xã hội, số tiền mà Madoff rút khỏi mô hình của mình rồi lại đem tiêu dùng chỉ đơn thuần là một sự tái phân phối trong một trò chơi có tổng bằng không (người quản lý việc phá sản thậm chí đã phải bán cả căn penthouse của ông ta). Nhận xét thứ tư của Jorge Stolfi ở trên – ‘những người vận hành lấy đi một phần lớn số tiền’ – đã gộp chung khoản tiền Madoff chiếm đoạt với doanh thu của các thợ đào bitcoin, nhưng xét về mặt kinh tế, hai thứ này hoàn toàn khác nhau.”
Ý kiến bạn đọc