![]() |
|
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự lễ giới thiệu ra mắt cuốn sách "Sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" của Đại tướng Lương Cường, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước, ngày 27/8/2026. Ảnh: thanhnien.vn. |
Trong tiến trình chuyển đổi sang kỷ nguyên phát triển mới - nơi tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực trung tâm - xuất bản không còn có thể được nhìn nhận như một lĩnh vực thuần túy kỹ thuật hay một ngành công nghiệp văn hóa đơn lẻ, mà đã và đang khẳng định vị thế của một lĩnh vực then chốt trong cấu trúc phát triển quốc gia. Vai trò đó được hình thành trên sự giao thoa giữa các chiều cạnh cơ bản: sản xuất và lan tỏa tri thức, định hướng tư tưởng - giá trị và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế sáng tạo. Chính sự đan xen này khiến xuất bản trở thành một trong những "trụ cột mềm" của phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số.
Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 17/3/2026, của Ban Bí thư, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới (sau đây gọi là Chỉ thị số 04-CT/ TW), chỉ rõ: "Xuất bản là một lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với nhiệm vụ tích lũy, sáng tạo và truyền bá các giá trị văn hóa, tinh thần; xây dựng và bồi đắp nền tảng tri thức quốc gia, tạo lập giá trị xã hội; dẫn dắt, định hướng thẩm mỹ, nâng cao dân trí và phát triển văn hóa; xây dựng, bảo vệ, phát huy giá trị con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới".
Cách tiếp cận này không chỉ xác lập rõ tính chất đặc thù của hoạt động xuất bản, mà còn mở rộng nội hàm vai trò, đặt xuất bản vào trung tâm của quá trình phát triển con người và xã hội.
Xuất bản trước hết được nhìn nhận như một hệ thống sản xuất tri thức có tổ chức, với khả năng tích lũy, chuẩn hóa và lan tỏa tri thức trên quy mô xã hội. Khác với dòng chảy thông tin nhanh và phân tán trên môi trường số, sản phẩm xuất bản, đặc biệt là sách mang tính hệ thống, tính kiểm chứng và độ tin cậy cao, qua đó góp phần định hình nền tảng tri thức bền vững của xã hội. Thực tiễn cho thấy, quy mô và tốc độ phát triển của hoạt động xuất bản có mối quan hệ chặt chẽ với trình độ phát triển tri thức của xã hội. Tại Việt Nam, số lượng xuất bản phẩm đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, từ khoảng 36.218 xuất bản phẩm năm 2020 lên trên 51.574 xuất bản phẩm năm 2025 (1), phản ánh xu hướng gia tăng nhu cầu tiếp cận tri thức của xã hội. Sự gia tăng này không chỉ mang ý nghĩa về mặt số lượng, mà còn cho thấy vai trò ngày càng lớn của xuất bản trong việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao dân trí trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.
Trong kỷ nguyên mới, theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW, xuất bản là lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với nhiệm vụ tích luỹ, sáng tạo và truyền bá giá trị văn hóa, tinh thần; xây dựng và bồi đắp nền tảng tri thức quốc gia, tạo lập giá trị xã hội; dẫn dắt, định hướng thẩm mỹ, nâng cao dân trí và phát triển văn hóa; xây dựng, bảo vệ, phát huy giá trị con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới. Là một bộ phận quan trọng của ngành công nghiệp văn hóa, nhưng khác với nhiều ngành công nghiệp văn hóa khác, xuất bản có khả năng tác động sâu sắc và bền vững đến nhận thức, tư duy và hệ giá trị của con người thông qua sản phẩm có tính hệ thống, tính học thuật và độ tin cậy cao. Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, khi nền tảng số xuyên biên giới có thể lan truyền thông tin với tốc độ nhanh và khó kiểm soát, vai trò của xuất bản trong việc bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, vận hành đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ càng trở nên đặc biệt quan trọng. Xuất bản phẩm chính trị, lý luận, lịch sử, văn hóa tiếp tục giữ vị trí nòng cốt trong việc truyền bá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Sự vận động của xuất bản trong kỷ nguyên mới cũng cho thấy mối liên hệ ngày càng chặt chẽ giữa lĩnh vực này với kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa. Doanh thu lĩnh vực xuất bản tại Việt Nam đã đạt khoảng 4.528 tỷ đồng năm 2024 và khoảng 4.165 tỷ đồng năm 2025 (2), cho thấy đây là một thị trường có quy mô đáng kể và tiềm năng phát triển lớn. Đáng chú ý, trong bối cảnh chuyển đổi số, giá trị gia tăng của hoạt động xuất bản không chỉ đến từ sản phẩm sách in truyền thống, mà còn mở rộng sang sản phẩm nội dung số, như sách điện tử, sách nói, nền tảng đọc trực tuyến và dịch vụ nội dung đa phương tiện. Điều này phản ánh xu hướng chuyển dịch từ "kinh tế in ấn" sang "kinh tế nội dung", trong đó tri thức và sáng tạo trở thành nguồn lực tạo ra giá trị cốt lõi. Trong bối cảnh đó, xuất bản không chỉ là lĩnh vực sản xuất nội dung truyền thống, mà đang từng bước chuyển hóa thành một cấu phần quan trọng của nền kinh tế số. Chỉ thị số 04-CT/TW chỉ rõ: "Xuất bản được xác định là công cụ chủ đạo trong giáo dục, đào tạo; là một bộ phận quan trọng của ngành công nghiệp văn hóa, góp phần lan tỏa văn hóa, hình thành chuỗi giá trị nội dung số, tài sản số, gia tăng hiệu quả kinh tế và đóng góp vào thành tựu chung của nền kinh tế quốc dân cũng như khả năng cạnh tranh quốc gia".
Đặc biệt, xuất bản đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc hình thành và phát triển hệ sinh thái tri thức số quốc gia. Trong kỷ nguyên công nghệ, xuất bản không còn là một hoạt động đơn tuyến, mà trở thành một mắt xích trong hệ sinh thái rộng lớn, bao gồm sáng tạo nội dung, công nghệ nền tảng, phân phối số và tương tác người dùng. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và nền tảng số đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất và tiêu thụ xuất bản phẩm. Theo báo cáo về hoạt động xuất bản năm 2025, số lượng xuất bản phẩm điện tử tại Việt Nam đạt 5.218 sản phẩm, tăng gần 50% so với năm trước, với khoảng 35 triệu lượt truy cập (3). Con số này cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt từ mô hình xuất bản truyền thống sang mô hình đa nền tảng, đồng thời khẳng định vai trò của xuất bản trong việc kiến tạo không gian tri thức số phục vụ xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, xuất bản còn đảm nhiệm chức năng quan trọng trong việc lan tỏa giá trị văn hóa và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Thông qua hoạt động xuất bản, giá trị văn hóa, lịch sử, tư tưởng của dân tộc được giới thiệu, lan tỏa ra thế giới, góp phần xây dựng hình ảnh quốc gia và tăng cường ảnh hưởng quốc tế. Xu hướng hợp tác quốc tế trong xuất bản, đặc biệt là mua bán bản quyền, đồng xuất bản và tham gia hội chợ sách quốc tế, ngày càng phát triển mạnh, mở ra cơ hội để ngành xuất bản Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thị trường toàn cầu. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế, mà còn trên lĩnh vực văn hóa và thông tin, xuất bản trở thành một công cụ hiệu quả để truyền tải "câu chuyện Việt Nam" ra thế giới một cách hệ thống và bền vững.
Đồng thời, cần nhấn mạnh rằng, trong kỷ nguyên phát triển mới, xuất bản còn giữ vai trò hạt nhân trong hệ sinh thái kiến tạo giá trị. Thông qua việc định hướng tri thức, khơi dậy sáng tạo, lan tỏa giá trị nhân văn và thúc đẩy đổi mới tư duy, xuất bản góp phần hình thành nền tảng trí tuệ cho phát triển bền vững. Điều này đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại vai trò của xuất bản không chỉ như một ngành kinh tế hay một lĩnh vực văn hóa, mà như một "hạ tầng mềm" của quốc gia - nơi hội tụ, kết nối và lan tỏa tri thức, giá trị và niềm tin xã hội.
Tóm lại, trong kỷ nguyên phát triển mới, xuất bản giữ vai trò đa chiều, vừa là công cụ tư tưởng sắc bén của Đảng, vừa giữ vai trò then chốt trong cấu trúc văn hóa - tri thức của quốc gia, trở thành ngành kinh tế - công nghệ phát triển. Việc nhận thức đầy đủ và sâu sắc vai trò này chính là cơ sở lý luận quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển phù hợp, hướng tới xây dựng một nền xuất bản chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Trong những năm gần đây, nền xuất bản Việt Nam vận động trong bối cảnh có nhiều yếu tố thuận lợi đan xen với không ít khó khăn, thách thức. Một mặt, sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; sự phát triển của khoa học, công nghệ và nhu cầu ngày càng cao của xã hội đối với tri thức đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy ngành xuất bản phát triển; mặt khác, biến động nhanh của môi trường truyền thông số, áp lực cạnh tranh và hạn chế nội tại cũng đang đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại một cách toàn diện thực trạng của ngành nhằm xác định đúng hướng đi trong giai đoạn tới.
Hệ thống nhà xuất bản từng bước được củng cố, sắp xếp theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động và phù hợp hơn với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, văn hóa và kinh tế. Nhiều nhà xuất bản đã chủ động đổi mới mô hình tổ chức, tăng cường liên kết với đơn vị phát hành, doanh nghiệp công nghệ, qua đó từng bước hình thành chuỗi giá trị xuất bản tương đối đồng bộ. Hiện nay, cả nước có 57 nhà xuất bản thuộc 53 cơ quan chủ quản, trong đó 48 nhà xuất bản thuộc khối trung ương và 9 nhà xuất bản địa phương. Nhà xuất bản hoạt động theo 1 trong 2 loại hình là đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện do Nhà nước là chủ sở hữu, trong đó có 42 nhà xuất bản hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập và 15 nhà xuất bản hoạt động theo loại hình doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện do Nhà nước là chủ sở hữu.
Về quy mô và năng lực sản xuất, hoạt động xuất bản Việt Nam tiếp tục duy trì sự ổn định và có bước phát triển nhất định. Năm 2025, 51.574 xuất bản phẩm, với hơn 543 triệu bản in đã được thực hiện. So với giai đoạn trước, quy mô này cho thấy sự gia tăng đáng kể cả về số lượng đầu sách và năng lực cung ứng sản phẩm ra thị trường. Nếu đặt trong tiến trình dài hơn thì có thể thấy hoạt động xuất bản đã từng bước phục hồi và phát triển sau giai đoạn chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, khi số lượng xuất bản phẩm năm 2020 chỉ đạt khoảng 36.218 đầu sách. Sự gia tăng về quy mô phản ánh nhu cầu tiếp cận tri thức ngày càng lớn của xã hội, đồng thời cho thấy nỗ lực của nhà xuất bản trong việc duy trì hoạt động sản xuất trong điều kiện thị trường còn nhiều biến động.
Về mặt sản phẩm, số lượng đầu sách xuất bản hằng năm có xu hướng gia tăng, với cơ cấu nội dung ngày càng đa dạng, phong phú, bao phủ nhiều lĩnh vực từ chính trị, lý luận, khoa học, giáo dục đến văn học, giải trí, kỹ năng sống. Quy mô sản xuất xuất bản phẩm của Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy xu hướng phục hồi và tăng trưởng rõ rệt sau giai đoạn suy giảm do tác động của đại dịch. Cụ thể, năm 2021, tổng số lượng xuất bản đạt 32.948 đầu xuất bản phẩm; năm 2022 tăng lên 38.029 đầu; năm 2024 đã đạt 51.443 đầu xuất bản phẩm, tăng hơn 56% so với năm 2021. Sự gia tăng nhanh về số lượng đầu sách không chỉ phản ánh khả năng phục hồi của ngành, mà còn cho thấy nhu cầu xã hội đối với sản phẩm tri thức tiếp tục mở rộng trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và chuyển đổi số. Số lượng đầu xuất bản phẩm gia tăng cho thấy quy mô hoạt động của ngành từng bước phục hồi sau đại dịch Covid-19 (4). Một số dòng sách có giá trị cao về học thuật, tư tưởng và văn hóa tiếp tục được duy trì, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí và bồi dưỡng đời sống tinh thần xã hội. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này vẫn chưa thực sự bền vững, khi dòng sách có giá trị học thuật cao, có khả năng dẫn dắt tư duy và tạo ảnh hưởng xã hội sâu rộng còn chưa chiếm tỷ trọng tương xứng.
![]() |
|
Ngày 5/3/2026, tại Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức Lễ trao tặng Tủ sách thiếu nhi cho Hội đồng Đội Trung ương (Trong ảnh: PGS.TS Phạm Minh Tuấn, Chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản trao tặng 2.000 cuốn sách cho Tủ sách thiếu nhi Hội đồng Đội Trung ương). Ảnh: nxbkimdong.com.vn. |
Đáng chú ý, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, ngành xuất bản đã từng bước chuyển từ tiếp cận công nghệ sang triển khai mô hình xuất bản số. Ngày càng nhiều nhà xuất bản và đơn vị phát hành cung cấp sách điện tử, sách nói, xây dựng nền tảng đọc trực tuyến, ứng dụng công nghệ trong quản lý và phân phối sản phẩm. Một số doanh nghiệp đã đầu tư phát triển hệ sinh thái nội dung số, từng bước mở rộng thị trường và tiếp cận nhóm độc giả trẻ. Quá trình chuyển đổi số trong ngành xuất bản bước đầu đạt kết quả tích cực, thể hiện qua việc tỷ lệ nhà xuất bản tham gia xuất bản điện tử tăng, từ 33,3% năm 2022 lên 54,38% năm 2024, cho thấy xu hướng thích ứng ngày càng rõ nét của các thực thể tham gia vào hoạt động xuất bản đối với môi trường số. Theo Báo cáo tổng kết năm 2023 của Cục Xuất bản, In và Phát hành, hơn 4.600 cuốn sách điện tử được xuất bản trong năm, tăng 31,4%, đưa tỷ lệ sách điện tử/tổng số xuất bản phẩm đạt 15,3%. Tỷ lệ nhà xuất bản đăng ký hoạt động xuất bản phẩm điện tử đạt 40,3% (5). Kết quả bước đầu này cho thấy sự thích ứng nhất định của hoạt động xuất bản trước yêu cầu của kỷ nguyên số, đồng thời mở ra hướng đi mới trong phát triển.
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, quá trình chuyển đổi số trong hoạt động xuất bản vẫn còn mang tính không đồng đều và chưa thực sự bền vững. Phần lớn nhà xuất bản còn hạn chế về nguồn lực tài chính, công nghệ và nhân lực, dẫn đến việc ứng dụng công nghệ mới chủ yếu dừng ở mức độ thử nghiệm hoặc phụ thuộc vào đối tác liên kết. Việc thiếu một hạ tầng số dùng chung và cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các thực thể hoạt động xuất bản cũng làm hạn chế khả năng phát triển nền tảng nội dung quy mô lớn. Trong khi đó, nền tảng công nghệ xuyên biên giới lại ngày càng chiếm ưu thế trong việc phân phối nội dung, tạo ra sức ép cạnh tranh ngày càng lớn đối với nhà xuất bản trong nước.
Về phương diện kinh tế, xuất bản tiếp tục duy trì vai trò là một bộ phận quan trọng của công nghiệp văn hóa, với doanh thu hằng năm ở mức hàng nghìn tỷ đồng. Năm 2024, doanh thu lĩnh vực xuất bản đạt khoảng 4.528 tỷ đồng; năm 2025, đạt khoảng 4.165 tỷ đồng. Mặc dù quy mô này cho thấy tiềm năng phát triển của thị trường xuất bản, song tốc độ tăng trưởng chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển của ngành. Một số ít nhà xuất bản đạt doanh thu trên 100 tỷ đồng, trong khi nhiều đơn vị có doanh thu rất thấp, cho thấy còn sự chênh lệch về quy mô, phản ánh sự khác biệt về năng lực cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Bên cạnh đó, mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nhiều nhà xuất bản vẫn chưa theo kịp yêu cầu của cơ chế thị trường hiện đại. Việc phụ thuộc vào liên kết xuất bản, thiếu chủ động trong tổ chức bản thảo và phát triển thị trường khiến nhiều nhà xuất bản chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn. Năng lực quản trị, đặc biệt là quản trị theo hướng số hóa và dữ liệu hóa, còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và khả năng thích ứng với môi trường cạnh tranh mới.
Xét về chất lượng nội dung, xuất bản phẩm ngày càng được chú trọng nâng cao về tính chính trị, tư tưởng và giá trị xã hội. Nhiều công trình có giá trị cao đã được xuất bản, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị và sự kiện trọng đại của đất nước, góp phần củng cố niềm tin xã hội và lan tỏa giá trị văn hóa. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, số lượng công trình có giá trị học thuật sâu, có khả năng tạo ảnh hưởng lớn trong đời sống trí tuệ và học thuật vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy sự thiếu hụt trong đầu tư cho dòng sách nghiên cứu chuyên sâu, sách lý luận và sách khoa học - lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tri thức quốc gia.
Đặc biệt, nguồn nhân lực của ngành xuất bản đang đối mặt với nhiều thách thức. Năm 2025, tổng số lao động trong các nhà xuất bản là khoảng 4.246 người, giảm nhẹ so với các năm trước. Sự sụt giảm này, cùng với thực tế thiếu hụt đội ngũ biên tập viên có trình độ cao, am hiểu công nghệ và có khả năng làm việc trong môi trường đa nền tảng, đang trở thành một trong những "điểm nghẽn" lớn của ngành. Trên thực tế, quá trình chuyển đổi số đã mở ra hướng đi mới cho hoạt động xuất bản tại nhà xuất bản nhằm lan tỏa tri thức một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của chuyển đổi số trong hoạt động xuất bản tại Việt Nam hiện nay là nguồn nhân lực thực hiện chuyển đổi số thiếu và yếu. Mặc dù cơ quan, doanh nghiệp xuất bản đã bước đầu triển khai ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản trị và phát hành, nhưng tỷ lệ cán bộ có năng lực sử dụng thành thạo công cụ số mới đạt dưới 35% - một con số khiêm tốn so với yêu cầu thực tế của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (6).
Trên phương diện thị trường, sự xuất hiện của nền tảng mạng xã hội, kênh nội dung miễn phí và hình thức giải trí nhanh ảnh hưởng đến thói quen đọc sách truyền thống. Đồng thời, hệ thống phát hành chưa thực sự hiện đại, khả năng tiếp cận bạn đọc, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, còn nhiều hạn chế. Theo báo cáo tổng kết của Cục Xuất bản, In và Phát hành, chỉ số hưởng thụ sách bình quân đầu người có biến động giữa các năm. Nếu năm 2022 đạt khoảng 6,02 bản/người/ năm - mức cao nhất từ trước tới nay, thì đến năm 2024 chỉ còn khoảng 5,9 bản/người/ năm, cho thấy chỉ số này giảm trong khoảng thời gian nêu trên.
Trong bối cảnh chuyển đổi sâu sắc của môi trường kinh tế - xã hội và không gian truyền thông toàn cầu, ngành xuất bản Việt Nam đang đứng trước sự đan xen phức tạp giữa thách thức và cơ hội. Việc nhận diện đầy đủ yếu tố này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển phù hợp trong giai đoạn tới.
Thách thức chủ yếu
Một là, thách thức từ sự biến đổi nhanh chóng của môi trường công nghệ và truyền thông số. Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, nền tảng số và hệ sinh thái nội dung toàn cầu đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, phân phối và tiêu thụ xuất bản phẩm. Trong khi đó, phần lớn nhà xuất bản trong nước còn hạn chế về năng lực công nghệ, thiếu nguồn lực đầu tư và chưa làm chủ được nền tảng số, dẫn đến nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh. Tác động, ảnh hưởng ngày càng gia tăng của nền tảng công nghệ xuyên biên giới cũng đặt ra thách thức về bảo đảm tính chính xác về nội dung và khả năng kiểm soát thông tin.
Hai là, thách thức từ sự thay đổi trong hành vi và nhu cầu của công chúng. Xu hướng chuyển dịch từ đọc sách truyền thống sang tiêu thụ nội dung nhanh, ngắn, đa phương tiện đang làm suy giảm vai trò của sản phẩm xuất bản truyền thống. Văn hóa đọc, đặc biệt là đọc sâu, đọc nghiên cứu, có dấu hiệu bị thu hẹp trong một bộ phận công chúng, nhất là giới trẻ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ sách, mà còn tác động đến hoạt động phổ biến, giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức, lối sống tốt đẹp của người Việt Nam...
Ba là, thách thức về năng lực cạnh tranh của các thực thể hoạt động trong ngành xuất bản. Thực tế cho thấy sự chênh lệch lớn về quy mô, nguồn lực và trình độ quản trị giữa các nhà xuất bản. Một số đơn vị có khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, nhưng phần lớn vẫn hoạt động theo mô hình truyền thống, thiếu chiến lược phát triển dài hạn, phụ thuộc nhiều vào liên kết xuất bản. Năng lực xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và khai thác bản quyền còn hạn chế, khiến ngành xuất bản Việt Nam chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bốn là, thách thức về nguồn nhân lực. Đội ngũ làm xuất bản hiện nay tuy cơ bản ổn định, nhưng đang thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là những người có khả năng kết hợp giữa chuyên môn biên tập và năng lực công nghệ. Trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu đối với nhân lực không chỉ là kiến thức chuyên ngành, mà còn là kỹ năng số, tư duy dữ liệu và khả năng làm việc trong môi trường đa nền tảng. Sự thiếu hụt này đang trở thành một trong những "điểm nghẽn" lớn cản trở quá trình hiện đại hóa ngành.
Năm là, thách thức từ môi trường pháp lý và quản lý. Hệ thống pháp luật về xuất bản, mặc dù đã có nhiều đổi mới, nhưng vẫn còn điểm chưa theo kịp thực tiễn phát triển của xuất bản số và sự xuất hiện các loại hình nội dung mới. Công tác quản lý đối với nền tảng số, xuất bản phẩm điện tử và hoạt động phát hành xuyên biên giới còn gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, tình trạng xâm phạm bản quyền, in xuất bản phẩm trái phép, phát hành trái phép vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường hoạt động của hoạt động xuất bản.
Cơ hội phát triển
Một là, cơ hội từ sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư, được ban hành trong bối cảnh ngành xuất bản đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, đã tạo ra cơ sở chính trị, tư tưởng, pháp lý quan trọng cho sự phát triển của ngành trong giai đoạn mới. Chỉ thị số 04-CT/TW đề cập định hướng phát triển xuất bản trong điều kiện chuyển đổi số. Chỉ thị đặt xuất bản trong mối liên hệ với công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và hệ sinh thái tri thức số quốc gia; đồng thời, xác định rõ mục tiêu xây dựng hệ thống xuất bản tinh gọn, hiện đại, hình thành tập đoàn xuất bản - truyền thông chủ lực đa nền tảng, đa sản phẩm. Chỉ thị cũng nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, phát triển xuất bản điện tử, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, xây dựng văn hóa đọc và phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam. Định hướng đó là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện thể chế và tổ chức hoạt động xuất bản. Sự quan tâm này không chỉ thể hiện ở việc hoàn thiện thể chế, mà còn ở việc định hướng chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho các thực thể hoạt động xuất bản đổi mới và phát triển. Bên cạnh đó là cơ hội từ chuyển đổi số quốc gia và sự phát triển của công nghệ. Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và công nghiệp văn hóa đang tạo ra môi trường thuận lợi cho ngành xuất bản đổi mới mô hình hoạt động. Công nghệ số không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian xuất bản, mà còn mở ra khả năng phát triển sản phẩm mới, như sách điện tử, sách nói, nền tảng đọc trực tuyến và dịch vụ nội dung số. Đây là cơ hội để hoạt động xuất bản cấu trúc lại toàn diện theo hướng hiện đại và hiệu quả hơn.
Hai là, cơ hội từ nhu cầu ngày càng gia tăng của xã hội đối với tri thức và học tập suốt đời. Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức phát triển, nhu cầu cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng và phát triển bản thân của người dân ngày càng lớn. Điều này tạo ra thị trường tiềm năng cho sản phẩm xuất bản, đặc biệt là sách giáo dục, sách kỹ năng, sách khoa học, công nghệ và sản phẩm tri thức chuyên sâu. Sự phát triển của tầng lớp trung lưu và quá trình đô thị hóa cũng góp phần mở rộng quy mô thị trường xuất bản.
Ba là, cơ hội từ hội nhập quốc tế và mở rộng thị trường. Quá trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu mở ra khả năng hợp tác, tiếp cận nguồn bản thảo chất lượng cao, công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản trị hiện đại. Hoạt động mua bán bản quyền, đồng xuất bản và tham gia hội chợ sách quốc tế tạo điều kiện để ngành xuất bản Việt Nam từng bước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới thông qua sản phẩm xuất bản.
Bốn là, cơ hội từ sự phát triển của công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Xuất bản ngày càng được xác định là một trong những lĩnh vực trọng tâm của công nghiệp văn hóa, với khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao thông qua nội dung và sáng tạo. Việc hình thành chuỗi giá trị nội dung số và tài sản số mở ra không gian phát triển mới cho hoạt động xuất bản, từ sản xuất nội dung đến khai thác dữ liệu và phát triển sản phẩm đa phương tiện. Đây là cơ hội để xuất bản chuyển từ mô hình kinh doanh truyền thống sang mô hình kinh tế nội dung.
Có thể thấy, thách thức và cơ hội của hoạt động xuất bản trong kỷ nguyên mới hiện hữu trong mối quan hệ tác động qua lại. Thách thức chính là "áp lực đổi mới", trong khi cơ hội là "không gian phát triển". Việc tận dụng hiệu quả cơ hội và vượt qua thách thức phụ thuộc vào khả năng đổi mới tư duy, nâng cao năng lực quản trị và chủ động thích ứng của các thực thể hoạt động xuất bản. Đây cũng chính là tiền đề để xây dựng một nền xuất bản chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
![]() |
|
Các đại biểu và học sinh đọc sách tại chương trình Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: bvhttdl.gov.vn. |
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: "Xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Tiếp tục sắp xếp hệ thống báo chí, xuất bản, truyền thông theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả" (7). Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) đã ban hành Hướng dẫn số 22-HD/ BTGDVTW, ngày 28-5-2026, về quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư với nội dung cụ thể, thiết thực. Trước yêu cầu phát triển mới, ngành xuất bản cần xác định định hướng phù hợp, có tính khả thi. Trong đó, triển khai hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2026, gắn với thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư, là nhiệm vụ có ý nghĩa nền tảng nhằm tạo chuyển biến đồng bộ trong tổ chức, quản trị và hoạt động của toàn ngành. Định hướng trọng tâm bao gồm:
Thứ nhất, tập trung xây dựng nền xuất bản hiện đại trên nền tảng chuyển đổi số toàn diện. Chỉ thị số 04-CT/TW nêu rõ mục tiêu đến năm 2030: "Xây dựng hệ thống xuất bản tinh gọn, mạnh, chất lượng, hiện đại hóa. Đầu tư, xây dựng và hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, đa nền tảng, đa sản phẩm; chú trọng thực hiện các nhiệm vụ chính trị tư tưởng, văn hóa giải trí, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo". Đây không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của ngành. Chuyển đổi số trong xuất bản phải được triển khai đồng bộ từ khâu tổ chức bản thảo, biên tập, chế bản, in ấn đến phát hành và tiếp thị sản phẩm, trong đó trọng tâm là số hóa quy trình xuất bản theo hướng tự động hóa, dữ liệu hóa và kết nối liên thông. Đồng thời, cần phát triển hệ sinh thái xuất bản số với sự tham gia của nhà xuất bản, doanh nghiệp công nghệ, đơn vị phát hành và nền tảng nội dung, qua đó hình thành môi trường xuất bản đa nền tảng, tích hợp giữa sách in, sách điện tử, sách nói và sản phẩm nội dung số khác. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại, như trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, mà còn nâng cao khả năng dự báo nhu cầu, cá nhân hóa trải nghiệm người đọc và mở rộng thị trường.
Thứ hai, bảo đảm tính nhân văn là nguyên tắc xuyên suốt trong phát triển xuất bản. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, xuất bản cũng cần kiên định định hướng tư tưởng, giữ vững vai trò là công cụ quan trọng trong việc truyền bá tri thức, bồi dưỡng nhân cách và định hình hệ giá trị xã hội. Điều này đòi hỏi sự chú trọng đặc biệt đến việc phát triển nội dung có giá trị giáo dục, văn hóa và lịch sử, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng đạo đức, lối sống và ý thức công dân. Trong bối cảnh thông tin đa chiều và phức tạp, xuất bản cần phát huy vai trò thẩm định, kiểm chứng và định hướng tri thức, đồng thời nâng cao trách nhiệm xã hội của các thực thể hoạt động xuất bản. Việc chuẩn bị triển khai Luật số 17/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản (Luật số 17/2026/QH16) cần gắn với yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận tri thức, quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, bạn đọc và các thực thể hoạt động xuất bản; tạo điều kiện để sách đến được với mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trẻ em, học sinh, sinh viên, đồng bào vùng sâu, vùng xa và nhóm còn gặp khó khăn trong tiếp cận xuất bản phẩm. Tính nhân văn vì thế không chỉ thể hiện ở nội dung sách, mà còn được thể hiện trong toàn bộ quy trình hoạt động nghề nghiệp và trách nhiệm phục vụ xã hội của hoạt động xuất bản.
Thứ ba, nâng cao tính chuyên nghiệp là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững và nâng cao vị thế của hoạt động xuất bản. Trước hết, cần chuẩn bị điều kiện triển khai Luật số 17/2026/QH16, từng bước đưa quy định mới vào toàn bộ hoạt động của nhà xuất bản, đơn vị liên kết, cơ sở in và hệ thống phát hành. Việc chuẩn hóa quy trình xuất bản, nâng cao chất lượng biên tập, thẩm định, phát hành và truyền thông sản phẩm cần được thực hiện gắn với trách nhiệm của từng thực thể hoạt động xuất bản, bảo đảm tính khoa học, minh bạch, đúng pháp luật và hiệu quả. Đồng thời, cần đặc biệt chú trọng phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, bao gồm biên tập viên, chuyên gia nội dung, nhà quản lý và chuyên gia công nghệ, có đủ năng lực chuyên môn, kỹ năng số và đạo đức nghề nghiệp. Đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài phải trở thành một trong những ưu tiên chiến lược, gắn với yêu cầu đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của hoạt động xuất bản.
Thứ tư, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế của xuất bản Việt Nam. Trọng tâm là đẩy mạnh hoạt động mua bán bản quyền, tăng cường dịch thuật và xuất khẩu sách Việt Nam ra thị trường quốc tế, đặc biệt là sản phẩm có giá trị về văn hóa, lịch sử và tri thức. Đồng thời, cần chủ động tham gia vào chuỗi giá trị xuất bản toàn cầu thông qua hợp tác với nhà xuất bản, tập đoàn truyền thông và nền tảng số quốc tế, qua đó học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ và mở rộng thị trường. Hội Xuất bản Việt Nam cần phát huy vai trò kết nối, thúc đẩy hợp tác giữa nhà xuất bản, đơn vị phát hành, doanh nghiệp công nghệ và đối tác quốc tế, tạo điều kiện để hội viên tiếp cận cơ hội hợp tác, trao đổi bản quyền và nâng cao năng lực hội nhập. Hội nhập quốc tế không chỉ là quá trình tiếp nhận, mà còn là cơ hội để khẳng định bản sắc và lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Thứ năm, chuẩn bị triển khai Luật số 17/2026/QH16 gắn với thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW và phát huy vai trò của Hội Xuất bản Việt Nam. Các điểm sửa đổi trong Luật số 17/2026/QH16, khi có hiệu lực, sẽ bổ sung cơ sở pháp lý cho việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, đổi mới phương thức hoạt động và phát triển nền xuất bản trong điều kiện chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế sáng tạo. Vì vậy, nhiệm vụ trước mắt là phổ biến, quán triệt và chuẩn bị triển khai quy định mới; từ ngày Luật số 17/2026/QH16 có hiệu lực, cần tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất, bảo đảm quy định mới được chuyển hóa thành năng lực quản trị, quy trình nghề nghiệp và hiệu quả hoạt động của từng nhà xuất bản, đơn vị liên kết, cơ sở in và hệ thống phát hành. Cơ quan quản lý nhà nước cần hướng dẫn, hỗ trợ việc chuẩn bị thi hành Luật số 17/2026/QH16 và kiểm tra việc thực hiện khi Luật có hiệu lực; nhà xuất bản chủ động rà soát, hoàn thiện quy chế, quy trình hoạt động, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo, biên tập viên và người làm xuất bản; doanh nghiệp, đơn vị liên kết và phát hành cần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền tác giả, quyền liên quan và chất lượng sản phẩm.
Trong quá trình đó, Hội Xuất bản Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp đại diện cho cộng đồng xuất bản, thực hiện tốt chức năng tập hợp, đoàn kết, kết nối và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên. Hội cần tăng cường vai trò cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với nhà xuất bản, đơn vị phát hành, doanh nghiệp công nghệ và đội ngũ người làm nghề; tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, trao đổi kinh nghiệm, tư vấn chuyên môn, hỗ trợ chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị cho hội viên. Đồng thời, Hội cần phát huy vai trò trong xây dựng văn hóa nghề nghiệp, nâng cao đạo đức, trách nhiệm xã hội của người làm xuất bản; thúc đẩy văn hóa đọc, hoạt động giới thiệu, quảng bá sách và thiết chế văn hóa đọc, như Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam, Giải thưởng Sách Quốc gia, Đường Sách Thành phố Hồ Chí Minh và các mô hình phát triển văn hóa đọc ở địa phương... Thông qua hoạt động đó, Hội Xuất bản Việt Nam góp phần đưa tinh thần đổi mới của Luật số 17/2026/QH16 và Chỉ thị 04-CT/TW đi vào đời sống, tạo chuyển biến tích cực về chất lượng, hiệu quả và tính chuyên nghiệp của toàn ngành.
Định hướng phát triển nêu trên cần được triển khai một cách đồng bộ, nhất quán và linh hoạt, trong đó chuẩn bị và tổ chức thực hiện điểm mới của Luật số 17/2026/QH16 theo thời điểm có hiệu lực là nhiệm vụ xuyên suốt, gắn với thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư và phát huy vai trò của Hội Xuất bản Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để tạo động lực mạnh mẽ cho việc xây dựng nền xuất bản chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong thời gian tới, xuất bản cần được định hướng trở thành một trong những trụ cột quan trọng của phát triển tri thức và văn hóa, góp phần nâng cao dân trí, phát triển con người toàn diện và củng cố sức mạnh mềm của quốc gia. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ngành xuất bản không ngừng đổi mới sáng tạo và vươn lên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.
---
(1) Xem: Cục Xuất bản, In và Phát hành: Báo cáo Tổng kết hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm (các năm 2020, năm 2025)
(2) Xem: Cục Xuất bản, In và Phát hành: Báo cáo tổng kết hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm (các năm 2024, năm 2025)
(3) Xem: Cục Xuất bản, In và Phát hành: Báo cáo tổng kết hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm (năm 2025)
(4) Xem: Cục Xuất bản, In và Phát hành: Báo cáo Tổng kết hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm (các năm 2021, năm 2022, năm 2024)
(5) Dung Trần: "Khởi đầu lạc quan cho số hóa xuất bản phẩm", Báo Nhân Dân điện tử, ngày 30-10-2024, https://nhandan.vn/khoi-dau-lac-quan-cho-so-hoa-xuatban-pham-post842160.html
(6) Phạm Thị Thu Hằng: "Chuyển đổi số trong hoạt động xuất bản Việt Nam", Tạp chí Lý luận Chính trị, số 7 (2023), tr. 112 - 115
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 272 - 273
Nguồn tin: znews.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn