Từ “tiếng nói được lắng nghe” đến “vị thế được tôn trọng”
Trong bài phát biểu ngày 22/9 tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 81, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu bốn định hướng: khôi phục lòng tin trên cơ sở Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ) và luật pháp quốc tế; thúc đẩy phát triển công bằng, bao trùm; quản trị công nghệ để tiến bộ phục vụ con người; và củng cố chủ nghĩa đa phương cùng vai trò trung tâm của LHQ. Những đề xuất ấy xuất phát từ trải nghiệm của một dân tộc hiểu cái giá của chiến tranh, nhưng cũng chạm tới mối quan tâm hiện thời của nhiều nước trước xung đột, phân mảnh kinh tế và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo.
Đánh giá về bài phát biểu, Giáo sư Thành Hán Bình, Viện trưởng điều hành Viện Nghiên cứu khu vực và quốc gia, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam tại Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc) cho biết: “Quan điểm được đưa ra trong bài phát biểu của nhà lãnh đạo Việt Nam đã “chạm” tới nỗi lo chung và thời sự của cộng đồng quốc tế, chính vì vậy đã thu hút sự chú ý đặc biệt của cộng đồng quốc tế” - tiếng nói ấy đã được lắng nghe, được chia sẻ và đồng cảm.
Giáo sư Khúc Cường (Qu Qiang) của Đại học Dân tộc Trung ương Trung Quốc cũng “đọc” bài phát biểu từ góc nhìn các nước phương Nam. Ông cho rằng, việc Việt Nam đề nghị không để cạnh tranh biến thành đối đầu, không để tiến bộ công nghệ tạo ra những chia rẽ mới phản ánh lợi ích trực tiếp của một nước đang phát triển, qua đó, Việt Nam nói hộ mối quan tâm chung của nhiều nước đang phát triển, đó là họ không chỉ “chấp nhận” nguyên tắc mà yêu cầu được tham gia bình đẳng hơn vào quá trình xây dựng và thực thi các quy tắc quốc tế. Nhận định của ông chỉ ra một thay đổi đáng suy nghĩ: Việt Nam đang từng bước chuyển từ tham gia các cơ chế quốc tế sang đề xuất sáng kiến và góp phần định hình chương trình nghị sự.
Bà Vina Nadjibulla, đồng sáng lập kiêm Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Nghệ thuật quản trị chiến lược của Canada, nhìn thấy ba lĩnh vực Việt Nam có thể đóng góp thiết thực cho cộng đồng quốc tế: thương mại dựa trên luật lệ, ngoại giao khu vực và quản trị công nghệ. Là một nền kinh tế gắn sâu với các chuỗi sản xuất quốc tế, Việt Nam có lợi ích trực tiếp trong việc giữ cho thị trường mở và có thể dự báo. Vai trò Chủ tịch Ủy ban Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) năm 2026 tạo thêm cơ hội để Việt Nam góp phần củng cố một khuôn khổ thương mại quan trọng của khu vực. Cùng với đó, kinh nghiệm duy trì đối thoại với các đối tác có lợi ích khác nhau, trong khi giữ vững tự chủ chiến lược, là điều có ý nghĩa tham khảo đối với nhiều nước đang phát triển và các quốc gia tầm trung.
Đặc biệt, chuyên gia Canada đánh giá cao đề nghị của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc các nước đang phát triển phải được tham gia thực chất vào quá trình xây dựng luật lệ về công nghệ số và trí tuệ nhân tạo. Theo bà, tiếng nói của Việt Nam có thể giúp những cuộc thảo luận về AI và chuyển đổi xanh quan tâm đầy đủ hơn tới nhu cầu của các nền kinh tế mới nổi.
Sức nặng của "ngoại giao nguyên thủ"
Chuyến công tác dự Đại hội đồng LHQ, làm việc tại Hoa Kỳ và thăm cấp Nhà nước tới Canada tiếp tục cho thấy dấu ấn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong việc trực tiếp dẫn dắt "ngoại giao nguyên thủ”.
Dấu ấn ấy được minh chứng rõ nét trong hai bài phát biểu chính sách tại New York và Ottawa. Trước Đại hội đồng LHQ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề xuất khôi phục lòng tin, củng cố chủ nghĩa đa phương và bảo đảm các nước đang phát triển có tiếng nói trong việc định hình luật lệ mới. Tại Nghị viện Canada, ông chỉ ra điểm gặp gỡ giữa hai quốc gia cùng đề cao khả năng tự chủ, từ đó phác họa những hướng hợp tác về công nghệ, năng lượng, thương mại và kết nối Nhân dân.
Bằng cách gắn lợi ích quốc gia với lợi ích chung toàn cầu, gắn tự cường với đa dạng hóa quan hệ, người đứng đầu Đảng và Nhà nước làm rõ hình ảnh một Việt Nam ngày càng chủ động đóng góp vào các vấn đề quốc tế, đồng mở ra cơ hội phát triển cho đất nước. Đó cũng là tinh thần Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 06-NQ/TW đặt ra cho đối ngoại trong giai đoạn mới: giữ vững tự chủ chiến lược, phát huy vai trò tiên phong trong tạo lập môi trường hòa bình, mở rộng không gian phát triển và nâng cao đóng góp của Việt Nam tại các cơ chế đa phương.
Đối với trong nước, "ngoại giao nguyên thủ" mang lại những ưu thế vượt trội hơn các phương thức ngoại giao khác. Sự hiện diện, trao đổi trực tiếp của người đứng đầu Đảng và Nhà nước giúp những định hướng ấy được truyền tải với sức nặng chính trị cao nhất, đồng thời tạo điều kiện để lãnh đạo các bên xây dựng lòng tin, thống nhất ưu tiên và thúc đẩy xử lý những vấn đề đòi hỏi quyết tâm ở cấp cao.
Với bạn bè quốc tế, việc tuyên bố đường lối đối ngoại ở cấp cao nhất, như các bài phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trong các chuyến thăm vừa qua mang lại sức lan tỏa, thu hút và tầm ảnh hưởng trên toàn cầu. Như Giáo sư Thành Hán Bình nhận định, việc chủ động mở rộng sự hiện diện trên trường quốc tế không chỉ thể hiện tinh thần “tự chủ chiến lược” đã được xác định rõ ràng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, mà còn liên tục nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam đăng cai tổ chức Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào năm 2027.
Cùng quan điểm, Đại sứ, Tiến sĩ Tôn Sinh Thành, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ cho rằng, sự chuyển dịch này hoàn toàn nhất quán với các định hướng lớn của Đảng, từ Chỉ thị số 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, cho đến các định hướng đối ngoại trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Biến khuôn khổ chiến lược thành những “gạch đầu dòng” cụ thể
Một trong những kết quả nổi bật nhất của chuyến công tác Bắc Mỹ là quyết định nâng quan hệ Việt Nam - Canada lên Đối tác Chiến lược. Tuyên bố chung xác lập 8 trụ cột hợp tác, bao gồm đối thoại song phương và đa phương; thương mại, đầu tư; giao thông và chuỗi cung ứng; chuyển đổi số và công nghệ tiên tiến; năng lượng và môi trường; an ninh lương thực; quốc phòng, an ninh; cùng giáo dục, văn hóa và giao lưu Nhân dân. Phạm vi ấy cho thấy hai bên muốn quan hệ mới có “chỗ đứng” trong những nhu cầu phát triển dài hạn, thay vì chỉ nâng cấp một danh xưng ngoại giao.
Về số văn kiện, thông cáo của Văn phòng Thủ tướng Canada xác nhận hai nước ký mới hoặc gia hạn bốn bản ghi nhớ trong chuyến thăm. Các lĩnh vực được nêu là năng lượng truyền thống và năng lượng sạch; vận tải biển; môi trường và biến đổi khí hậu; an toàn thực phẩm.
Một kết quả khác có tác động gần với đời sống là hai nước hoàn tất đàm phán mở rộng Hiệp định Vận tải hàng không, tạo điều kiện cho đường bay thẳng chở khách và hàng hóa. Đây là bước mở đường về mặt thỏa thuận; việc khai thác đường bay cụ thể còn phụ thuộc vào quyết định và chuẩn bị của các hãng hàng không. Với cộng đồng người Việt tại Canada, sinh viên, doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu, khả năng kết nối thuận tiện hơn có ý nghĩa rất rõ. Với hàng hóa, nhất là sản phẩm cần vận chuyển nhanh, đó có thể là một lợi thế mới nếu được đưa vào khai thác hiệu quả.
Tại Hoa Kỳ, chuyến công tác cũng mở rộng tiếp xúc về công nghệ, năng lượng và nguồn vốn. Ở cuộc tọa đàm với các doanh nghiệp lớn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao các hợp đồng, thỏa thuận trong các lĩnh vực chuyển đổi số, công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, hàng không, năng lượng xanh, y tế và viễn thông. Điều ông đặt ra cho giai đoạn sau ký kết rất cụ thể: mỗi thỏa thuận cần có đầu mối, tiến độ và cuối cùng phải tạo được dự án, dòng vốn, công nghệ, sản phẩm và việc làm.
Triết lý "đối ngoại phục vụ phát triển" có thể đo đếm được
Nhìn từ tinh thần Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, chuyến công tác của nhà lãnh đạo cao nhất thể hiện sự gắn bó giữa hai nhiệm vụ: đóng góp có trách nhiệm vào những vấn đề chung và mở rộng không gian phát triển cho đất nước. Nghị quyết xác định đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đề cao tự chủ chiến lược, đồng thời nhấn mạnh hiệu quả thực hiện các cam kết quốc tế. Tại New York, Việt Nam tham gia bàn về luật lệ, phát triển và công nghệ. Tại Ottawa, những quan tâm đó có thêm cơ chế hợp tác về năng lượng, vận tải, nghiên cứu và thương mại.
Chuyển biến sau chuyến thăm vì thế có thể nhìn ở ba tầng. Thứ nhất, quan hệ với Canada đã có khuôn khổ chính trị cao hơn, tạo cơ sở để các cơ quan duy trì đối thoại thường xuyên và xử lý công việc vượt ra ngoài từng lĩnh vực riêng lẻ. Thứ hai, các bản ghi nhớ, thỏa thuận hàng không và chương trình hợp tác với LHQ đặt ra những đầu việc có thể theo dõi trong các năm tới. Thứ ba, việc được giới nghiên cứu quốc tế chú ý ở các chủ đề như quản trị công nghệ, thương mại dựa trên luật lệ hay quyền tham gia xây dựng luật chơi cho thấy Việt Nam có thêm dư địa đóng góp ý tưởng, bên cạnh việc tìm kiếm nguồn lực cho chính mình.
Như Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung khi tổng kết chuyến công tác nhấn mạnh, việc nâng cấp quan hệ với Canada đi cùng kế hoạch hành động và các biện pháp hợp tác cụ thể. Ý nghĩa của một chuyến đi lớn cũng nằm ở chặng đường bắt đầu sau khi đoàn trở về: văn kiện được đưa vào chương trình làm việc, cơ hội đầu tư trở thành dự án, và sự đồng thuận trong các diễn đàn quốc tế được gìn giữ bằng hành động nhất quán. Những kết quả ấy sẽ cho thấy tính thời đại của định hướng đối ngoại mới: đối ngoại phục vụ phát triển sẽ được đánh giá bằng chính sự vươn mình của quốc gia cả trong nước và trên các diễn đàn quốc tế.
Nguồn tin: daibieunhandan.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn