Buổi sáng, Quốc hội nghe Tờ trình của Chính phủ về việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh. Theo Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Hải, việc thành lập hai thành phố nêu trên đã bảo đảm đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý theo quy định, phù hợp Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn, Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng, Quy hoạch tỉnh, Quy hoạch chung đô thị của Quảng Ninh và Bắc Ninh.
Về phương án cụ thể, Chính phủ đề xuất thành lập hai thành phố trên cơ sở giữ nguyên trạng diện tích tự nhiên, quy mô dân số và số đơn vị hành chính cấp xã hiện nay. Thành phố Quảng Ninh sau thành lập sẽ có 6.231,27km2 diện tích tự nhiên, quy mô dân số 1.523.400 người và 54 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 30 phường, 22 xã và hai đặc khu. Trong khi đó, thành phố Bắc Ninh sau thành lập sẽ có 4.713,75km2 diện tích tự nhiên, quy mô dân số 3.989.623 người và có 99 đơn vị hành chính cấp xã gồm 45 phường và 54 xã.
Sau thành lập, hai thành phố Quảng Ninh và Bắc Ninh tiếp tục sử dụng trụ sở, tài sản công hiện có của hai tỉnh cùng tên. Tổ chức bộ máy các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị được giữ nguyên trạng, ngoại trừ một số được sắp xếp, thành lập mới theo quy định của Đảng, điều lệ của tổ chức và quy định của pháp luật. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị trước mắt được giữ nguyên trạng, đồng thời thực hiện sắp xếp, bố trí nhân sự theo quy định, bảo đảm phù hợp chính quyền đô thị.
Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội có chiều dài đầu tư khoảng 349km, đi qua bảy địa phương, với tuyến chính cao tốc quy mô sáu làn xe, tốc độ thiết kế 100-120km/giờ, đường song hành quy mô ít nhất hai làn xe, tốc độ thiết kế 60-80km/giờ. Chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án là khoảng hơn 78.000 tỷ đồng. Dự án có hai phương án đầu tư là đối tác công-tư (PPP) và đầu tư công. Tuy nhiên, phương án đầu tư PPP chưa bảo đảm tính khả thi. Sơ bộ, tổng mức đầu tư dự án là khoảng hơn 288.000 tỷ đồng, phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035. Trong số 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt áp dụng cho dự án, có hai chính sách mới gồm: Công tác bồi thường, hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị thu hồi đất sản xuất; thẩm quyền quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư.
Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng gồm chín dự án thành phần. Chính phủ đề xuất các tuyến nhánh không sử dụng sức kéo điện mà dùng các đầu máy diesel, dự kiến đến năm 2045 chuyển sang năng lượng sạch.
Thảo luận ở tổ, nhiều đại biểu bày tỏ đồng tình với sự cần thiết đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan dự án cần bảo đảm cuộc sống ổn định cho người dân bị ảnh hưởng.
Đại biểu Nguyễn Trung Kiên (đoàn Đồng Nai) cho rằng, nếu người dân gặp khó khăn về tái định cư, thì các công trình của dự án cũng không thể thực hiện đúng tiến độ. Cùng quan điểm, đại biểu Hoàng Duy Chinh (đoàn Thái Nguyên) đề nghị nêu cao tính đồng bộ cả về kết cấu hạ tầng và tái thiết cuộc sống cho người dân trong vùng ảnh hưởng của Dự án.
Một số ý kiến đề nghị bảo đảm khả năng cân đối nguồn vốn cho các Dự án đường vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội và tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng. Việc Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đường vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội trong thời gian Quốc hội không họp là cơ chế đặc biệt, đã cho thấy hiệu quả qua nhiều dự án quan trọng cấp quốc gia.
Liên quan Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, nhiều đại biểu đề nghị đánh giá hiệu quả dự án dựa trên cả lưu lượng phương tiện, doanh thu và tiềm năng mở ra không gian phát triển mới. Đại biểu Nguyễn Hoàng Tùng (đoàn Lạng Sơn) nhận định: Khi đường vành đai 5 kết nối với cao tốc Bắc Giang-Lạng Sơn và Hải Phòng, Quảng Ninh, các tuyến đường sẽ tạo nên hành lang logistics từ cửa khẩu tới thẳng cảng biển và các trung tâm sản xuất. Vì vậy, cần đánh giá đầy đủ hơn về hiệu quả liên kết vùng, khả năng kết nối quốc tế của Dự án nhằm xác định thứ tự ưu tiên đầu tư các đoạn tuyến.
Chiều cùng ngày, Quốc hội thảo luận tại tổ về các dự án: Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án).
Tập trung thảo luận Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, đa số các đại biểu cho rằng, dự thảo luật lần này có nhiều thay đổi căn bản, trong đó đáng chú ý là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương; cải cách thủ tục hành nghề kiến trúc; bổ sung các tiêu chí nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng.
Tuy nhiên, theo các đại biểu, dự thảo luật vẫn còn một số nút thắt, nhất là đối với các đô thị lớn. Đại biểu Nguyễn Vũ Trung (đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) chỉ rõ: Hiện nay nguyên tắc quản lý trong dự thảo luật vẫn là quản lý từng công trình. Chúng ta cần chuyển từ quản lý công trình sang quản lý chất lượng không gian; từ bảo tồn bằng mệnh lệnh hành chính sang bảo tồn bằng lợi ích kinh tế; từ khống chế quyền phát triển sang điều tiết và chuyển quyền phát triển; từ quản lý bằng thủ tục sang quản lý bằng quy hoạch, dữ liệu và hậu kiểm.
Đại biểu đề nghị bổ sung quy định vào Luật Kiến trúc theo hướng các dự án chung cư, nhà ở xã hội và khu đô thị mới từ quy mô nhất định trở lên phải bố trí không gian sinh hoạt cộng đồng dành cho người cao tuổi. Không gian này cần bảo đảm thuận tiện tiếp cận, an toàn, không có rào cản đối với người cao tuổi và người khuyết tật, đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hóa, luyện tập sức khỏe, tư vấn và tổ chức hoạt động cộng đồng.
Nguồn tin: nhandan.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn