Bước ngoặt phát triển đột phá
- Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo ông, mô hình này khác căn bản với mô hình tăng trưởng mà Việt Nam theo đuổi trong gần 40 năm Đổi mới ở những điểm nào?
- Mô hình phát triển mới mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu ra có ý nghĩa là một bước ngoặt phát triển đột phá: Chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ, tài nguyên, mở rộng đầu tư và gia công sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và năng lực tự chủ quốc gia, tập trung vào các ngành công nghệ cao: trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng sạch, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn,… và đặt con người ở vị trí trung tâm, hướng đến một quốc gia thịnh vượng, nâng cao đời sống, phẩm giá và cơ hội phát triển công bằng cho mỗi cá nhân.
Trong mô hình phát triển mới này, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu không còn chỉ là công cụ hỗ trợ phát triển, mà trở thành động lực trung tâm và hạ tầng nền tảng của phát triển. Điều đó có nghĩa là tăng trưởng không chỉ đo bằng quy mô GDP, mà phải được đo bằng năng lực sáng tạo, năng suất tổng hợp, năng lực làm chủ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng chống chịu trước các biến động toàn cầu.
Tôi cho rằng, đây là sự chuyển đổi từ tư duy “đi sau, tận dụng lợi thế chi phí thấp” sang tư duy “đi cùng, đi trước ở một số lĩnh vực then chốt”. Mô hình phát triển mới chuyển từ lợi thế nhân công sang lợi thế nhân tài. Muốn trở thành nước phát triển có thu nhập cao, chúng ta phải cạnh tranh bằng trí tuệ Việt Nam, công nghệ Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo do Việt Nam làm chủ.
Một điểm rất quan trọng nữa là mô hình mới đặt con người vào vị trí trung tâm. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là chủ thể sáng tạo. Đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu cơ bản sâu, R&D và ứng dụng, thương mại hóa công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo phải được nhìn nhận như những trụ cột chiến lược của quốc gia. Do đó, trong mô hình phát triển mới này, giáo dục đại học có ý nghĩ và vai trò then chốt, rất quan trọng
- Lần đầu tiên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu được xác định là “hạ tầng nền tảng” của phát triển. Điều này sẽ làm thay đổi cách Nhà nước phân bổ nguồn lực, đầu tư công và hoạch định chính sách như thế nào trong thời gian tới, thưa ông?
- Trong kỷ nguyên mới, Nhà nước phải coi đầu tư cho khoa học -công nghệ và giáo dục đại học là đầu tư phát triển dài hạn, không phải là khoản chi hành chính.
Về đầu tư công, cần có sự dịch chuyển rõ hơn sang các hạ tầng khoa học - công nghệ chiến lược. Cần đầu tư có trọng điểm cho các đại học nghiên cứu, viện nghiên cứu mạnh, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, trung tâm mô phỏng, cho các công nghệ chiến lược như công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, công nghệ sinh học, robot, năng lượng mới, các công nghệ quốc phòng-an ninh lưỡng dụng. Đầu tư phải đủ lớn, đủ dài hạn, có khả năng hội nhập và cạnh tranh, có cơ chế đặt hàng, có đánh giá theo kết quả đầu ra và có khả năng chấp nhận rủi ro khoa học.
Về hoạch định chính sách, dữ liệu phải trở thành tài nguyên và nền tảng của quản trị quốc gia. Chính sách không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hay cảm tính, mà phải dựa trên dữ liệu lớn, phân tích dự báo, mô hình hóa, đánh giá tác động và phản hồi theo thời gian thực. Đây là bước chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển hiện đại, thông minh.
Nhà nước cũng cần thay đổi cơ chế phân bổ ngân sách khoa học - công nghệ theo hướng cạnh tranh, minh bạch, chú trọng đặc biệt đầu tư cho R&D; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, trao quyền tự chủ cao hơn cho các tổ chức nghiên cứu, các đại học và thậm chí cho cả các nhóm nghiên cứu mạnh, đồng thời gắn trách nhiệm giải trình với kết quả cụ thể: bài báo chất lượng cao, bằng sáng chế, công nghệ lõi, sản phẩm thương mại hóa, doanh nghiệp spin-off, nhân lực trình độ cao và đóng góp vào các bài toán lớn của quốc gia.
Rào cản lớn nhất là tư duy quản lý rủi ro
- Theo Kết luận, Nhà nước sẽ chuyển từ vai trò quản lý sang kiến tạo, chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp thông qua vốn mồi, đồng đầu tư, sandbox công nghệ... Theo ổng, đâu là những rào cản thể chế lớn nhất để các cơ chế này thực sự đi vào cuộc sống?
- Rào cản lớn nhất hiện nay, theo tôi, là tư duy quản lý rủi ro. Nếu chúng ta đánh giá khoa học - công nghệ bằng logic chi thường xuyên, bằng thủ tục hành chính cứng nhắc, quản lý theo quy trình, theo các chỉ tiêu tiền kiểm bằng tâm lý lúc nào cũng lo sợ sai, sợ trách nhiệm, thì hoạt động đổi mới sáng tạo, các nghiên cứu R&D, các cơ chế như vốn mồi, đồng đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm hay sandbox sẽ khó vận hành thực chất.
Rào cản thứ hai là khung pháp lý cho tài sản trí tuệ, Quỹ đầu tư định giá công nghệ, góp vốn bằng tài sản trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn chưa thật thông thoáng.
Rào cản thứ ba là cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp chưa đủ mạnh.
Rào cản thứ tư là cơ chế tài chính còn nặng về thanh quyết toán theo dự toán phê duyệt đầu vào, trong khi đầu tư và chi cho đổi mới sáng tạo cần đánh giá theo đầu ra và tác động.
Để các cơ chế này đi vào cuộc sống, cần có hành lang pháp lý rõ ràng về chấp nhận rủi ro và hậu kiểm trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho công nghệ mới; quỹ đầu tư mạo hiểm có vốn nhà nước dẫn dắt nhưng vận hành theo nguyên tắc thị trường; và chính sách ưu tiên cho doanh nghiệp đầu tư vào R&D, hợp tác với đại học, viện nghiên cứu.
- Một điểm rất đáng chú ý là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu “nhìn xa hơn chuyển đổi số” để chuẩn bị cho thời đại trí tuệ nhân tạo tổng quát, robot, điện toán lượng tử, sinh học tổng hợp. Việt Nam cần chuẩn bị những gì ngay từ bây giờ để không bị tụt lại trong làn sóng công nghệ mới này, thưa ổng?
- Tôi rất tâm đắc với yêu cầu “nhìn xa hơn chuyển đổi số”. Chuyển đổi số thật tốt mới khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn dữ liệu, biến dữ liệu thực sự thành tài sản quốc gia, mới phát triển được nền kinh tế số và thay đổi các mô hình quản trị truyền thống. Tuy nhiên, xây dựng dữ liệu không chỉ là số hóa. Cần có chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ, bảo vệ quyền riêng tư, an ninh dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ và hạ tầng tính toán hiệu năng cao đủ mạnh. Dữ liệu phải được quản trị như tài nguyên, một tài sản chiến lược của quốc gia.
Theo tôi, Việt Nam cần chuẩn bị ngay trên những phương diện sau:
Thứ nhất, chuẩn bị về con người. Phải đào tạo một thế hệ nhân lực mới có năng lực liên ngành, có nền tảng STEM thật tốt: toán học, khoa học máy tính, cơ khí, điện tử, vật liệu, sinh học, y sinh, kinh tế số, luật công nghệ và đạo đức công nghệ. Đại học phải đi trước một bước trong đào tạo nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược.
Thứ hai, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, và các nghiên cứu nền tảng: AI, lượng tử, robot, sinh học tổng hợp không thể phát triển nếu thiếu toán học, vật lý, hóa học, sinh học, khoa học vật liệu, cơ học, điều khiển, tối ưu hóa, khoa học dữ liệu. Việt Nam muốn làm chủ công nghệ lõi thì không thể xem nhẹ nghiên cứu cơ bản.
Thứ ba, ưu tiên đầu tư mạnh cho nghiên cứu phát triển (R&D). Các nghiên cứu thống kê cho thấy nếu đầu tư cho R&D dưới 2% GDP thì quốc gia chưa thể sáng tạo công nghệ. Chúng ta còn khoảng cách khá xa về năng lực R&D so với thế giới.
Thứ tư, xây dựng hạ tầng công nghệ quốc gia. Cần có trung tâm dữ liệu lớn, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, nền tảng dữ liệu mở có kiểm soát, phòng thí nghiệm trọng điểm, khu thử nghiệm sandbox các công nghệ cao (như UAV, robot,…), trung tâm AI, trung tâm bán dẫn, trung tâm công nghệ sinh học, các cơ sở kiểm định và tiêu chuẩn hóa công nghệ mới.
Thứ năm, xây dựng hệ thống các phòng thí nghiệm tiên tiến, hiện đại. Muốn đào tạo kỹ sư bán dẫn, chuyên gia AI, nhà khoa học vật liệu, chuyên gia hàng không vũ trụ hay robot, thì cần phòng thí nghiệm rất hiện đại, hạ tầng tính toán mạnh, thiết bị nghiên cứu tiên tiến, cơ sở dữ liệu lớn và môi trường thực hành sát với công nghiệp.
Thứ sáu, chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân tài. Cần có cơ chế mạnh hơn và thông thoáng hơn, đủ hấp dẫn để thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế, cũng như giữ chân các tài năng trẻ trong nước. Với đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trong trường đại học, cần được đầu tư thỏa đáng cho nghiên cứu và đánh giá theo chuẩn mực khoa học, hiệu quả nghiên cứu, năng lực đào tạo và đóng góp cho phát triển công nghệ thay vì bằng các tiêu chí hành chính.
Thứ bảy, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và các trung tâm xuất sắc trong đại học. Và cuối cùng, hoàn thiện thể chế cho công nghệ mới. Phải vừa khuyến khích thử nghiệm, vừa kiểm soát rủi ro; vừa mở đường cho sáng tạo, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền lợi của người dân.
Nếu hành động quyết liệt từ bây giờ, Việt Nam có thể không chỉ là người sử dụng công nghệ, mà có thể trở thành một quốc gia có năng lực sáng tạo, làm chủ và xuất khẩu một số công nghệ trong những lĩnh vực mà ta có lợi thế.
- Xin cảm ơn ông !
Nguồn tin: daibieunhandan.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn