Kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 - 6/1/2026)

Thứ năm - 01/01/2026 06:37
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 - 6/1/2026), từ số ra hôm nay, Báo Hànộimới mở chuyên mục "Kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 - 6/1/2026)" nhằm giới thiệu với bạn đọc các bài viết ôn lại sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng của đất nước và những đóng góp quan trọng của Quốc hội trong tiến trình đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Thông qua những tư liệu, phân tích và góc nhìn khoa học, từ đó làm rõ giá trị to lớn của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như những bài học quý báu đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên

Cách đây 80 năm, ngày 6-1-1946, chỉ sau 5 tháng giành được độc lập, hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần yêu nước nồng nàn và khí thế hào hùng của Cách mạng Tháng Tám, tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên trên khắp mọi miền của Tổ quốc, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, chính kiến..., đã nô nức tham gia cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ, trực tiếp và bỏ phiếu kín, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của các thế lực xâm lược và chống đối.

Sự kiện trọng đại này đã đi vào lịch sử nước ta như một mốc son chói lọi, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước Việt Nam. Thắng lợi đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân; trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là việc ban hành các bản sắc lệnh về bầu cử có giá trị to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Trước hết, việc tổ chức Tổng tuyển cử toàn dân bầu Quốc hội khóa I được quy định trong Sắc lệnh số 14-SL (8-9-1945) ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công là quyết định sáng suốt, đúng đắn và kịp thời của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quyết định này thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giải quyết tình thế cách mạng lúc bấy giờ và tạo nền tảng dân chủ cho đất nước. Trong đó, sự đánh giá một cách khách quan, khoa học tương quan giữa lực lượng ủng hộ cách mạng và phản cách mạng để tiến hành Tổng tuyển cử là vấn đề rất quan trọng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù thời điểm ấy, nước ta đứng trước họa xâm lăng với “thù trong, giặc ngoài”, nhưng Đảng ta vẫn quyết định Tổng tuyển cử, bởi các tầng lớp nhân dân - lực lượng to lớn của dân tộc - đều nhận rõ bộ mặt của kẻ thù và đứng về phía chính quyền cách mạng. Trong những đêm trường nô lệ của dân tộc, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất dám vượt qua gian khổ, hy sinh để nhận trách nhiệm đứng ra lãnh đạo nhân dân ta đánh đổ ách thống trị của thực dân - phong kiến, giành độc lập dân tộc và cơm no, áo ấm cho dân nghèo. Khi cách mạng thành công, Đảng lại không mưu cầu “làm quan, phát tài”, vì nhân dân và không phân biệt thành phần, đảng phái, dân tộc, tôn giáo… mà tổ chức Tổng tuyển cử nhằm chọn người hiền tài để lãnh đạo đất nước nên càng được nhân dân trân trọng và ủng hộ. Chính vì thế, Ngày Tổng tuyển cử (6-1-1946) đã thực sự trở thành ngày hội của quần chúng, với quy mô toàn dân nô nức tham gia, bất chấp sự đe dọa, ngăn trở của thực dân, đế quốc cùng bọn phản động và bè lũ tay sai. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Trong lịch sử hiếm có một quốc gia nào vừa giành được độc lập, với biết bao khó khăn đang chồng chất lại dám quyết định tổ chức cuộc Tổng tuyển cử thật sự dân chủ và sớm ban bố những sắc lệnh về Tổng tuyển cử”. Như vậy, có thể thấy, sắc lệnh về quyết định Tổng tuyển cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những mạch nguồn sáng tạo, vô giá trong lịch sử của Quốc hội và dân tộc.

Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, thiếu thốn trăm bề, nhất là phương tiện và điều kiện bầu cử khó khăn, trình độ các tầng lớp nhân dân còn hạn chế…, để cuộc Tổng tuyển cử thực sự dân chủ theo mục tiêu đề ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời ban hành Sắc lệnh số 39-SL về thành lập Ủy ban Dự thảo thể lệ Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 51-SL về các quy định bầu cử; Sắc lệnh số 71-SL, Sắc lệnh số 72-SL về sửa đổi, bổ sung thủ tục ứng cử và quy định số đại biểu ở các địa phương… Trong đó, các quy định về nguyên tắc bầu cử như: Vận động tuyển cử, phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp, bỏ phiếu kín,… lần đầu tiên được ban hành là những định hướng cơ bản, mang tính khoa học và pháp lý cao, phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước nhà, làm cơ sở để chỉ đạo các cấp, ngành, địa phương triển khai thực hiện.

Nguyên tắc bầu cử phổ thông đầu phiếu quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường”. Đây là nguyên tắc nhằm thu hút tất cả các tầng lớp nhân dân trong nước, miễn là đến độ tuổi trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) tham gia bầu cử.

Về nguyên tắc bầu cử trực tiếp, được quy định tại Sắc lệnh số 51-SL (phần “Thể lệ Tổng tuyển cử”), nêu rõ: Khi bầu cử, “mỗi cử tri phải thân hành đi bầu, không được ủy quyền và cũng không được bầu bằng cách gửi thư” nhằm chống gian lận và lợi dụng kẽ hở để chống phá của các thế lực phản động, thù địch.

Đối với nguyên tắc bỏ phiếu kín được thể hiện tại các Điều 36 và Điều 38 của Sắc lệnh số 51-SL, nhằm bảo đảm bí mật, an toàn và sự tự do cá nhân trong bầu cử của các cử tri. Trong đó, đối với những người không biết chữ, Sắc lệnh số 51-SL chỉ rõ: Ban Phụ trách ở các điểm bầu cử phải lập tổ ba người để giúp cử tri thực hiện quyền bầu cử theo quy trình: Một người viết giúp, hai người kiểm tra. Sau đó, tổ này phải tuyên thệ trước cử tri đó rằng, đã viết đúng theo ý nguyện của họ và sẽ tuyệt đối giữ bí mật về điều đó. Đây là điểm rất sáng tạo, độc đáo và phù hợp với trình độ dân trí của nước ta lúc bấy giờ, nhất là đối với tầng lớp dân nghèo không có điều kiện đi học… Thực tiễn đó cho thấy, mặc dù là cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử của dân tộc, nhưng các sắc lệnh về bầu cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện đầy đủ các nội dung cơ bản, cần thiết của một cuộc bầu cử dân chủ và hiện đại.

Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh quyết định mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử. Hành động này chứng tỏ Chính phủ và Việt Minh luôn tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân, tôn trọng người tài năng, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm, thiện chí vì quyền lợi tối cao của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết”.

Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, nhấn mạnh: “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa Quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình. (...) Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”. Báo Quốc hội (tờ nhật báo chỉ ra trong kỳ Tổng tuyển cử), số đặc biệt ngày 6-1-1946 trân trọng in ở trang đầu ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và bút tích “Lời kêu gọi” của Người: “Khuyên đồng bào nam, nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng vào Quốc hội đầu tiên của nước ta”.

80 năm đã trôi qua, nhưng dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I năm 1946 vẫn vẹn nguyên trong ký ức của hàng triệu trái tim Việt Nam. Những chỉ thị, sắc lệnh và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nguồn tin: hanoimoi.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Gian hàng

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Gửi phản hồi