Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 2089/QĐ-TTg ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 125-TB/VPTW, ngày 18/7/2026 của Văn Phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Phát triển Công nghiệp hàng hải Quốc gia (Kế hoạch).
Kế hoạch đặt ra 10 nhiệm vụ, giải pháp bao gồm:
1- Tổ chức quán triệt, tuyên truyền và cụ thể hóa Thông báo kết luận.
2- Xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
3- Rà soát, đánh giá, phân loại năng lực công nghiệp hàng hải quốc gia.
4- Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
5- Hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm và huy động nguồn lực phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
6- Tổ chức lại thị trường, phát huy hiệu quả năng lực hiện có và phát triển thị trường công nghiệp hàng hải, cơ khí biển.
7- Phát triển hệ sinh thái công nghiệp hàng hải, cơ khí biển hiện đại, xanh, số và nâng cao năng lực tự chủ.
8- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
9- Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng.
10- Hình thành các trung tâm, cụm liên kết công nghiệp hàng hải, cơ khí biển trọng điểm.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 2/11/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành giấy giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).
Chiến lược đặt mục tiêu tổng quát là phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam đồng bộ, hiện đại, đáp ứng toàn diện nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước cả về sản lượng, chất lượng, chủng loại; đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.
Đầu tư các dự án quy mô đủ lớn, sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng, giảm thiểu chất thải phát sinh, giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường theo định hướng kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số đưa ngành công nghiệp giấy Việt Nam trở thành ngành công nghiệp xanh, mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Công điện số 71/CĐ-TTg ngày 04/11/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu quả công tác quản lý, hạch toán, theo dõi tài sản công.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng, khai thác, xử lý tài sản công của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí tài sản; xử lý dứt điểm các tài sản hỏng, không sử dụng được; các tài sản còn sử dụng được nhưng không sử dụng; các tài sản sử dụng không đúng mục đích theo đúng quy định của pháp luật...
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Nghị định số 401/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.
Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.
Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số là 100 triệu đồng và đối với tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số là 200 triệu đồng.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 2/11/2026 phê duyệt Đề án thí điểm đánh giá, chấm điểm công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương (Đề án).
Mục tiêu của Đề án là xây dựng Bộ Chỉ số đánh giá, chấm điểm công tác cải cách TTHC của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương toàn diện, xuyên suốt từ quy định đến thực hiện TTHC, bảo đảm đánh giá thực chất, đầy đủ, chính xác mức độ cải cách TTHC theo thời gian thực dựa trên dữ liệu, phục vụ chỉ đạo, điều hành, tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế, cải thiện chất lượng thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Đề án phấn đấu 100% chỉ số đánh giá, chấm điểm cải cách TTHC được số hóa, thực hiện, theo dõi, đánh giá, giám sát trên môi trường điện tử. Ít nhất 80% dữ liệu để đánh giá, chấm điểm được thu thập tự động trên cơ sở kết nối, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết TTHC và các Nền tảng, Hệ thống thông tin khác.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định 2116/QĐ-TTg ngày 5/11/2026 phê duyệt Định hướng phát triển đô thị thông minh quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035.
Mục tiêu đến năm 2030 tạo chuyển biến căn bản trong phương thức quản trị và phát triển đô thị theo hướng dựa trên dữ liệu, chuyển từ quản lý, xử lý sự vụ và ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang quản trị theo mục tiêu, có khả năng phân tích, dự báo, điều phối và đo lường bằng kết quả, tác động, năng lực giải quyết các vấn đề về đô thị, chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027, thay thế Nghị định số 293/2025/NĐ-CP.
Theo Nghị định số 399/2026/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng tại 4 vùng so với quy định tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ như sau:
Vùng | Lương tối thiểu tháng hiện hành | Lương tối thiểu tháng mới | Mức tăng |
Vùng I | 5.310.000 | 5.700.000 | 390.000 |
Vùng II | 4.730.000 | 5.080.000 | 350.000 |
Vùng III | 4.140.000 | 4.450.000 | 310.000 |
Vùng IV | 3.700.000 | 4.040.000 | 340.000 |
(Đơn vị: đồng/tháng)
Mức lương tối thiểu theo giờ tại vùng I tăng từ 25.500 đồng/giờ lên 27.400 đồng, vùng II từ 22.700 đồng/giờ lên 24.400 đồng, vùng III từ 20.000 đồng/giờ lên 21.400 đồng, vùng IV từ 17.800 đồng/giờ lên 19.400 đồng.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 50/2026/QĐ-TTg về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027.
Theo Quyết định, đối tượng được vay là học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn là công dân Việt Nam đang theo học tại các cơ sở đào tạo gồm:
1- Học sinh, sinh viên thuộc các trường hợp sau:
a) Mồ côi cha và mẹ; hoặc cả cha và mẹ cùng không có khả năng lao động hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật liên quan;
b) Mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật liên quan.
2- Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng:
a) Hộ nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật;
b) Hộ cận nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật;
c) Hộ có mức sống trung bình theo chuẩn quy định của pháp luật.
3- Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận hằng năm của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú theo quy định của pháp luật.
Các đối tượng trên được vay tối đa là 8.000.000 đồng/tháng/học sinh, sinh viên để trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên.
Nghị định số 400/2026/NĐ-CP ngày 03/11/2026 quy định chế độ chăm sóc khi sĩ quan Công an nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo như sau:
1. Sĩ quan Công an nghỉ hưu nếu mắc một trong các bệnh thuộc danh mục bệnh hiểm nghèo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế thì được khám giám định bệnh hiểm nghèo, nếu được Hội đồng giám định y khoa cấp có thẩm quyền kết luận mắc bệnh hiểm nghèo thì được hưởng các chế độ, chính sách sau đây:
a) Hằng quý được hỗ trợ bằng 02 lần mức lương cơ sở. Thời điểm tính từ quý được Hội đồng giám định y khoa kết luận mắc bệnh hiểm nghèo;
b) Khi điều trị nội trú ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong và ngoài Công an nhân dân, được đảm bảo tiền ăn bệnh lý chênh lệch so với tiền ăn cơ bản hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong Công an nhân dân.
Trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chi trả; trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài Công an nhân dân do Công an cấp tỉnh nơi sĩ quan Công an nghỉ hưu thường trú thanh toán trực tiếp theo số ngày điều trị thực tế được xác nhận tại giấy ra viện.
c) Trường hợp đang hưởng chế độ, chính sách quy định tại điểm a và b khoản này đi định cư ở nước ngoài hoặc từ trần hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này thì không được hưởng chính sách quy định tại khoản này từ quý sau liền kề của quý đi định cư ở nước ngoài hoặc từ trần hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý.
2. Trường hợp sĩ quan Công an trước khi nghỉ hưu đã được cấp có thẩm quyền công nhận mắc bệnh hiểm nghèo thì khi thực hiện chế độ hưu trí được hỗ trợ hằng quý và chính sách theo quy định tại khoản 1 nêu trên. Thời điểm hỗ trợ tính từ quý bắt đầu thực hiện chế độ hưu trí và mức hưởng bằng mức hỗ trợ của cả quý.
3. Trường hợp sĩ quan Công an nghỉ hưu đã được Hội đồng giám định y khoa kết luận mắc bệnh hiểm nghèo nhưng chưa được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định hưởng chế độ hỗ trợ mắc bệnh hiểm nghèo mà từ trần thì đại diện thân nhân được hỗ trợ một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Nghị định số 402/2026/NĐ-CP ngày 6/11/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 114/2018/NĐ-CP ngày 4/9/2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước.
Trong đó, Nghị định số 402/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 25 quy định về phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi như sau:
"1. Chủ đầu tư, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thủy lợi có trách nhiệm tổ chức lập, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi.
2. Nội dung chính của phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi
a) Kịch bản vận hành hồ chứa trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập;
b) Bản đồ ngập lụt vùng hạ du đập trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập theo quy định tại Điều 27 Nghị định này; tại các khu vực chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và công bố bản đồ ngập lụt vùng hạ du đập, chủ đầu tư, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thuỷ lợi có trách nhiệm tổ chức khảo sát, tính toán để xác định phạm vi vùng hạ du đập bị ảnh hưởng và mức độ ngập lụt vùng hạ du đập khi hồ chứa xả nước theo quy trình, xả lũ trong tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập phục vụ việc xây dựng phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp;
c) Các tình huống khẩn cấp hoặc vỡ đập; dự kiến và kế hoạch ứng phó ở công trình đầu mối;
d) Thống kê các đối tượng bị ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng theo các kịch bản;
đ) Quy định về chế độ, phương thức thông tin, cảnh báo, báo động đến chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi, phòng chống thiên tai và người dân khu vực bị ảnh hưởng;
e) Kế hoạch ứng phó phù hợp với từng tình huống lũ, ngập lụt ở vùng hạ du đập;
g) Nguồn lực tổ chức thực hiện phương án;
h) Trách nhiệm của chủ sở hữu, chủ quản lý, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa nước, chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị liên quan;
i) Phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đập, hồ chứa thuỷ lợi theo mẫu tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này.
3. Hàng năm hoặc khi bản đồ ngập lụt được điều chỉnh, bổ sung, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thủy lợi có trách nhiệm tổ chức rà soát phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp đối với đập, hồ chứa thuỷ lợi. Trường hợp, sau rà soát không có thay đổi, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thủy lợi báo cáo bằng văn bản đến cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án để được tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt. Trường hợp sau rà soát có thay đổi cần phải lập phương án điều chỉnh, bổ sung, tổ chức, cá nhân khai thác đập, hồ chứa thủy lợi điều chỉnh, bổ sung phương án để trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt."./.
Nguồn tin: baochinhphu.vn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn