81 năm Quốc khánh 2/9: Tuyên ngôn Độc lập - ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam

Thứ tư - 26/08/2026 23:23
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

81 năm đã trôi qua, những giá trị cốt lõi của bản Tuyên ngôn và tinh thần ngày 2/9/1945 vẫn vẹn nguyên sức sống, trở thành ngọn đuốc soi sáng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.

“Áng thiên cổ hùng văn” về quyền con người, quyền dân tộc

Chú thích ảnh
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn Độc lập”, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Ảnh tư liệu: TTXVN

Mùa thu lịch sử năm 1945, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng triệu người dân Việt Nam đã kết thành một khối thống nhất, đứng lên giành chính quyền, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, quyết tâm “dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Cách mạng Tháng Tám đã thổi bùng tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của mỗi một người Việt Nam. Cuộc sống hồi sinh, tinh thần dân tộc hồi sinh. Một dân tộc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Để rồi tinh thần đó, ý chí đó đã làm nên sức mạnh vô địch của người Việt Nam khi buộc phải tiến hành những cuộc chiến đấu đầy hy sinh gian khổ.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do Người soạn thảo, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể đồng bào cả nước và nhân dân thế giới về nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những cơ sở pháp lý về quyền con người và quyền dân tộc để làm nền tảng căn cứ vững chắc cho bản Tuyên ngôn. Người đưa ra các trích dẫn trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (1). Và “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. (2)

Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ có ý nghĩa to lớn, đây là cách nêu dẫn chứng vừa khéo léo vừa kiên quyết. Nó góp phần đảm bảo tính khách quan của bản tuyên ngôn và hơn thế còn thể hiện thái độ tôn trọng chân lý chung hay những giá trị tiến bộ được nhân loại thừa nhận của Người. Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn còn mang ý nghĩa sâu xa hơn đó là Bác đã đặt bản Tuyên ngôn độc lập nước ta ngang hàng với hai bản tuyên ngôn của hai cường quốc trên thế giới.

Tuy nhiên, nếu như hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ chỉ dừng lại ở việc nhấn mạnh quyền con người, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã khéo léo phát triển, đưa ra một luận đề không thể bác bỏ về quyền của các dân tộc: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. (3)

Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc.
Chính điều này mà Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã thể hiện giá trị thời đại sâu sắc. Tuyên ngôn

Độc lập không chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam, mà còn là tuyên ngôn mang tính thời đại, là tiếng nói của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Những tư tưởng lớn của bản Tuyên ngôn Độc lập là những tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam, cũng là những tư tưởng lớn của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới.

Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc

Chú thích ảnh
Bản Tuyên ngôn Độc lập được Việt Nam Thông tấn xã phát đi toàn thế giới bằng ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp trong ngày 15/9/1945. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Trước quốc dân Việt Nam và thế giới, Tuyên ngôn Độc lập đã lên án mạnh mẽ hành động cướp nước, chế độ thống trị hà khắc của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với dân tộc Việt Nam: “Về chính trị - Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào... Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân trong những bể máu... Về kinh tế - Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy... Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu... Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng...” (4).

Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến và đế quốc, giành lại độc lập, tự do và quyền con người. Như vậy, nhân quyền ở Việt Nam không phải là giá trị do ai ban phát mà là kết quả của cuộc đấu tranh trường kỳ của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh đó đã làm cho “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” (5).

Bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; thủ tiêu hoàn toàn chính quyền thực dân, phong kiến, khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam trước toàn thể nhân dân Việt Nam với toàn thế giới. “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” (6).

Phần cuối bản Tuyên ngôn là lời khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (7).

Bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là một văn kiện lịch sử, pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mà còn là bản hùng ca thể hiện khát vọng mãnh liệt về quyền con người, quyền của dân tộc được sống trong độc lập, tự do. Từ thời khắc thiêng liêng ấy, lịch sử của dân tộc bước sang trang mới, người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã tự tin bước lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình; dân tộc Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với nhân loại, Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là nguồn cổ vũ, động viên, khích lệ vô cùng to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội.

Ngọn đuốc soi đường cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Chú thích ảnh
Quần chúng cách mạng và tự vệ chiếm Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ), ngày 19/8/1945. Cách mạng tháng Tám thành công tại Hà Nội. Ảnh tư liệu: TTXVN

81 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vang vọng Lời thề độc lập, với tư tưởng bất hủ “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết đồng lòng, muôn người như một, đưa cách mạng Việt Nam vững bước tiến lên, giành được những thắng lợi lịch sử mang tầm thời đại, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; thực hiện thành công công cuộc đổi mới, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Từ một vùng đất chưa có tên trên bản đồ thế giới, từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế.

Từ một nền kinh tế quy mô nhỏ, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động của khu vực. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới. Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. 6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Đây là cơ sở quan trọng để nền kinh tế tiếp tục hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Nếu tăng trưởng kinh tế là động lực thì con người chính là mục tiêu và chủ thể của quá trình phát triển. Công cuộc giảm nghèo là một trong những thành tựu nổi bật. Tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ nghèo đa chiều (gồm tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo) trên cả nước đã giảm xuống còn 2,95%.

Cùng với đó, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có hiệu quả. Việt Nam ngày nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 37 nước; tham gia hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế quan trọng, đồng thời ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Chú thích ảnh
Khu vực Văn phòng Chủ tịch nước được trang trí cờ hoa, khẩu hiệu chào mừng 81 năm Quốc khánh 2/9. Ảnh: Nguyễn Thắng/TTXVN

Trong kỷ nguyên mới với nhiều thời cơ, thách thức đan xen, Đảng tiếp tục thể hiện vai trò dẫn dắt bằng những quyết sách lớn mang tính chiến lược, lâu dài. Đại hội XIV của Đảng đã đề mục tiêu phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, có thu nhập cao; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.

Vì vậy, những giá trị bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập năm xưa tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường, khát vọng cống hiến, xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Tinh thần quyết “giữ vững quyền tự do và độc lập” trong kỷ nguyên mới không chỉ được đo bằng khả năng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà còn là năng lực xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng "sánh vai với các cường quốc năm châu" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, thể hiện qua tư duy dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, làm chủ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy tăng trưởng, đưa đất nước phát triển bứt phá.

Chú thích ảnh
Rất đông người dân, du khách đến Quảng trường Ba Đình vào những ngày mùa Thu lịch sử. Ảnh: Nguyễn Thắng/ TTXVN

Đặc biệt, những giá trị về quyền con người do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng trong Tuyên ngôn Độc lập là những giá trị bất hủ. Tuyên ngôn đề cao quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, trở thành cơ sở để Hiến pháp và pháp luật Việt Nam khẳng định vị trí trung tâm của người dân trong đời sống chính trị-xã hội. Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, việc phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân càng có ý nghĩa quyết định. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà là nguồn lực sáng tạo to lớn. Thực hành triệt để quan điểm “dân là gốc”, coi Nhân dân là trung tâm, chủ thể của mọi quyết sách chính là con đường căn bản để củng cố “thế trận lòng dân”, tạo sức mạnh nội sinh bền vững, đưa đất nước tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên phát triển mới.

81 năm đã trôi qua nhưng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” trong Tuyên ngôn Độc lập, đến hôm nay vẫn vang vọng núi sông. Lời kêu gọi ấy có sức cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.

-------------------

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7): trích Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tập 4, tr.1, 2, 3

Nguồn tin: baotintuc.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

 
BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Gian hàng

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Gửi phản hồi